Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngôn Ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngôn Ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2023

CHỮ TIỀN VÀ CHỮ TÔI

 

Chữ "Tiền" và Chữ "Tôi" - Như Nhiên

 

TIỀN

- Bỏ dấu huyền thì là Tiên

- Thêm dấu sắc là Tiến

- Thêm dấu nặng là Tiện

- Thêm dấu ngã là Tiễn


Biết dùng tiền, sẽ giúp bạn thăng tiến.

Có được tiền, cảm giác sướng như tiên !

Cố giữ tiền, bạn là người bần tiện ,

Thiếu thốn tiền, nhà cửa cũng.. phải tiễn,

người yêu bỗng nhiên.. biến.

TÔI 

- Bỏ dấu thì là Toi

- Thêm dấu sắc là Tối

- Thêm dấu huyền là Tồi

- Thêm dấu nặng là Tội


Không biết mình là ai thì toi

Không học hỏi người khác thì tối

Không giúp người hoạn nạn thì tồi

Không làm điều tốt lành thì tù tội.

Đừng bất chấp tất cả để bán rẻ cái tôi cho đồng tiền.

 

- Nhiều tiền gọi là người giàu có,

Có tiền mà không có tâm thì vẫn là người nghèo khó!

- Nói vu vơ với mây, với gió, nếu đụng chạm ai đó thì..

đừng nhắn nhó mà .. hãy bỏ qua cho!

 

Như Nhiên

Thứ Tư, 4 tháng 8, 2021

DẤU PHẨY TRONG ĐỜI

Sưu tầm


                                                         Nhà văn Oscar Wilde

Trong phiên tòa xử vụ ly dị, tòa phán với ông chồng:

– Ở với vợ lớn, không được ở với vợ nhỏ.

Ông chồng về nhà đưa bản án cho bà vợ lớn, chỉ sửa lại dấu phẩy:

– Ở với vợ lớn không được, ở với vợ nhỏ.

Có người hỏi nhà văn Oscar Wilde (1856 – 1900) sao ông thường có vẻ đăm chiêu. Nhà văn Anh này đáp: “Sáng nay tôi đã bỏ quên một dấu phẩy trong một bài thơ. Chiều nay tôi phải lấy lại”.

Sai một phẩy, nhảy ngàn dặm!

Một giáo viên tiếng Anh đã đề nghị mỗi sinh viên đặt những dấu thích hợp vào câu sau: “Woman without her man is nothing”. Bọn con trai ngắt câu: “Woman, without her man, is nothing” (đàn bà, nếu thiếu đàn ông của mình thì chẳng là gì cả). Bọn con gái lại ngắt câu như sau: “Woman: without her, man is nothing” (phụ nữ: thiếu cô ta, đàn ông chẳng là gì cả).

Một phụ nữ Mỹ đi du lịch ở châu Âu gửi điện về cho chồng: “Có một chiếc xuyến đẹp mê hồn, giá 75 đô. Em mua được không?” Anh chồng lập tức trả lời “No, price too high” (không, giá quá cao) nhưng nhân viên điện tín mắc một sai lầm nhỏ đã bỏ qua dấu phẩy và thành: “No price too high” (không giá nào là quá cao). Được lời như cởi tấm lòng, cô vợ mua ngay chiếc xuyến. Khi về Mỹ, cô vợ khoe chiếc xuyến làm người chồng choáng váng. Người chồng đem vụ “bỏ sót dấu phẩy” này ra toà và thắng kiện. Từ đây, các hãng điện tín đòi hỏi nhân viên phải đánh vần dấu câu trong bức điện chứ không dùng ký hiệu nghĩa là phải viết “No comma price too high” (không phẩy giá cao quá).

Dấu phẩy đôi khi có giá đến nửa triệu đô. Năm 1870, trong danh sách các mặt hàng được miễn thuế vào Mỹ, lẽ ra là câu “Tropical fruit-plants for the purpose of propagation” (các cây nhiệt đới ăn trái nhằm mục đích nhân giống) thì người ta đánh nhầm dấu nối thành dấu phẩy, thành “Tropical fruit, plants for the purpose of propagation” (trái cây nhiệt đới, cây nhằm mục đích nhân giống). Thế là toàn bộ các loại trái cây nhiệt đới được nhập miễn thuế vào Mỹ. Tới khi người ta phát hiện ra sai sót chết người này thì đã mất khoảng 500.000 USD tiền thuế không đòi lại được!

Được yêu, được sống nhờ dấu phẩy:

Ông bố nọ muốn lấy tên nhà thơ La Mã vĩ đại Virgile đặt cho con trai mình. Khốn nỗi, ông lúng túng viết nhầm thành Virgule, tiếng Pháp có nghĩa là dấu phẩy. Anh chàng lớn lên cũng khẳng khiu như dấu phẩy, không thành nhà thơ mà vào làm bưu điện. Anh thầm yêu trộm nhớ cô hàng xóm Sophie. Cô gái này lại yêu chàng trai không yêu cô. Bao nhiêu thư gửi đi mà không nhận được hồi đáp. Rồi một hôm, cô quyết định ra bưu điện gửi bức điện (chứ không viết thư nữa) cho chàng trai nọ.

– Tôi muốn gửi một bức điện – cô buồn rầu nói, mắt không nhìn Virgule, nhân viên bưu điện.

– Cô vui lòng đọc nội dung – Virgule cầm bút cảm động lắp bắp nói.

– “Je t’aime, virgule, Je t’adore, virgule, Je voudrais tant que tu me dises que tu m’aimes aussi, point” (Em yêu anh, phẩy, em thương anh, phẩy, em muốn anh cũng nói với em rằng anh cũng yêu em, chấm)

Anh chàng Virgule không cho virgule là dấu phẩy mà hiểu đó là tên mình: Em yêu anh, Virgule, em thương anh, Virgule… Anh chàng bưu điện yêu cầu cô gái nhắc lại. Sophie làm theo: “Em yêu anh, Virgule, em thương anh, Virgule…” Mắt anh ta sáng lên. Sophie nhận ra anh chàng này đáng yêu làm sao. Và họ đến với nhau.

Còn đây là giai thoại về hoàng đế Nga Alexandre Đệ Tam (qua tiếng Anh): từ chối ân xá cho một phạm nhân, ông đọc “Pardon impossible, to be sent to Siberia” (Không thể ân xá, đày đi Siberia). Vợ ông là Dagmar (cháu gái vua Đan Mạch Christian IX) là một người vô tâm nên đã đánh nhầm dấu phẩy thành “Pardon, impossible to be sent to Siberia” (Ân xá, không thể đày đi Siberia). Thế là người tù này thoát tội!

Một cụ ông để lại di chúc: Điền viên trao tặng, nghĩa tế ngoại tộc bất khả phân tranh (Ruộng vườn trao tặng, con rể là người là người ngoài tộc không được tranh giành). Chàng rể sửa lại dấu phẩy như sau: Điền viên trao tặng nghĩa tế, ngoại tộc bất khả phân tranh (Ruộng vườn trao tặng con rể, người ngoài tộc không được tranh giành).

Đặt sai dấu phẩy, biết bao chuyện dở cười dở khóc đã xảy ra!

Thêm một áp-phích tuyên truyền ở Việt Nam:

Gia đình nên có 2 con, vợ chồng hạnh phúc. Có người sửa lại: Gia đình nên có 2 con vợ, chồng hạnh phúc.

Dấu chấm phẩy thật quan trọng!

Thứ Ba, 29 tháng 6, 2021

THÀNH NGỮ VIỆT NAM

THÀNH NGỮ VIỆT NAM

Phan Lục

            Trong kho tàng văn học Việt Nam có những thể loại như dân ca, cách ngôn, ngạn ngữ, ca dao, tục ngữ, đặc ngữ, thành ngữ v.v… là những câu, những ý hoặc những lời nói ngắn gọn được lưu truyền trong dân gian rất lâu ngày quen miệng để trở thành những mảng văn học.

            Thành ngữ là tập hợp những từ cố định quen dùng, có nghĩa, gọi tên sự vật, hiện tượng, tính chất, hành động v.v… mà thường không thể suy ra từ nghĩa của từng từ riêng biệt. Trong mọi thứ tiếng của các nước trên thế giới cũng đều có thành ngữ mà ta thường không thể cắt nghĩa riêng từng từ được. Ví dụ, trong tiếng Anh có thành ngữ “buckle down” nghĩa là “dùng nhiều sức lực hơn” chứ không phải là “hãy mở khóa ra” trái nghĩa với “buclkle up’ là “hãy thắt chặt khóa lại”. Trong tiếng Việt có thành ngữ “chó cậy gần nhà” nghĩa là “ỷ thế, nhờ cậy vào thế thuận lợi mà tỏ ra hung hăng, dọa nạt, bắt chẹt hay làm tình, làm tội người khác” chứ không có ý gọi ai đó là “chó”. Hoặc thành ngữ “gái đĩ già mồm” nghĩa là “đã sai rành rành mà còn to tiếng cãi vã, chửi rủa ầm ĩ để lấp liếm” chứ không có ý mạt sát “mày là con đĩ” v.v…

            Vì vậy, khi đọc tiếng Việt cũng như khi dạy con cháu chúng ta học tiếng Việt thì cần phải tra cứu để hiểu rõ nghĩa của các từ ngữ Hán-Việt, nhất là các thành ngữ, để tránh những hiểu lầm đáng tiếc. Là người Việt, bất cứ định cư ở nơi nào, ta cũng cần phải nói và hiểu tiếng Việt một cách chính xác để lưu truyền cho con cháu chúng ta gìn giữ tinh hoa của nền văn hóa dân tộc.

            Sau đây, xin nêu định nghĩa của một số ít thành ngữ tiếng Việt (khác nhau từng địa phương):

            Ác báo ác lai: Làm điều ác cho người thì điều ác ấy sẽ đến với mình.

            Bã chà bợt chợt: Có lời nói, cử chỉ lẳng lơ.

            Cá mè một lứa: Đồng loạt, cùng một giuộc với nhau cả, coi ngang hàng nhau, không phân biệt đối xử cho hợp lẽ.

            Cả vú lấp miệng em: Dùng quyền lực, thế mạnh của mình để chèn ép, lấn át người khác.

            Cha chung không ai khóc: Những việc chung liên quan đến nhiều người mà không có người nào chịu trách nhiệm chính nên thường bị bỏ mặc, bê trễ, không ai lo liệu.

            Chó cùng dứt giậu: Liều lĩnh, làm xằng bậy một cách thiếu cân nhắc, tính toán do bị đẩy vào bước đường cùng.

            Chó nhảy bàn độc: Bất tài, dốt nát, thiếu năng lực, kém cỏi nhưng gặp cơ hội nên chiếm được địa vị cao sang rồi cứ bám mãi,

            Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng: Chưa chi đã vội hợm hĩnh, lên mặt với người khác.

            Chưa học bò đã lo học chạy: Hấp tấp làm những việc quá khả năng nên khó bề thực hiện được.

            Đội váy nát mẹ: Hợm hĩnh, tinh ranh, ra vẻ ta đây để lòe bịp, dọa dẫm người từng trải và hiểu biết hơn mình.

            Gieo gió gặt bão: Gây ra điều ác thì phải chuốc lấy hậu quả to lớn của hành động độc ác ấy.

            Khẩu tâm bất nhất: Nói lời tốt đẹp nhưng nghĩ và làm những việc xấu xa, vô đạo đức.

            Miệng quan trôn trẻ: Tùy tiện, đúng sai bất chấp, thường hay tráo trở không đáng tin cậy trong lời nói của bọn có quyền thế.

            Mồm loa mép giải: Lắm lời, đanh đá, nói lấy được bất chấp đúng sai.

            Nát giỏ còn tre: Dù mất mát nhưng vẫn còn vốn liếng, còn khắc phục được.

            Nát đá phai vàng: Không giữ được lòng chung thủy và phản lại tình cảm đã có.

            Ngậm máu phun người: Đặt điều gièm pha, vu khống một cách độc ác, đê tiện nhằm làm hại, gieo tai vạ cho người khác.

            Ngư long biến hóa: Đỗ đạt, thành đạt trong học hành, thi cử.

            Ngư thủy duyên hài: Hợp nhau, dễ gắn bó với nhau, dễ nên duyên vợ chồng.

            Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã: Những kẻ xấu tìm đến với nhau để thực hiện những mưu đồ xấu xa, đồi bại của chúng.

            Quân sư quạt mo: Người bày mưu kế, mách nước tồi, kém.

            Quấy hôi bôi nhọ: Làm những việc không hay, không tốt gây tiếng xấu.

            Râu ông nọ cắm cằm bà kia: Chắp vá, lẫn lộn một cách tùy tiện nên trở thành khập khiễng không ăn khớp, không phù hợp với nhau.

            Sông sâu sóng cả: Khó khăn, gian truân, nguy hiểm phải trải qua.

            Sống chết mặc bay: Thái độ ích kỷ, thờ ơ, vô trách nhiệm, bỏ mặc, không để ý, không quan tâm đến ai, chỉ lo cho riêng mình.

            Sờ chẳng ra, rà chẳng thấy: Túng thiếu quá đến mức chẳng có tí gì hoặc chẳng biết lần tìm ở đâu để mà sống.

            Sủa càn cắn bậy: Nói năng xằng bậy, linh tinh, bạ đâu nói đó, thiếu đắn đo suy nghĩ, thiếu đứng đắn.

            Sứa vượt qua đăng: Làm một việc vượt quá khả năng của mình.

            Sưng mày sưng mặt: Có vẻ bực bội, tức giận, tỏ ra bất đắc dĩ phải chấp nhận làm một việc gì.

            Tép lặn tép lội: Lắm mồm, hay nói điêu ngoa.

            Tiền có đồng, cá có con: Rõ ràng, minh bạch, không mập mờ được.

            Thần hồn nát thần tính: Hoảng sợ, tự huyễn hoặc, gây cho mình nỗi sợ hãi do non gan, yếu bóng vía, không tự chủ được mình.

            Thế thần bịch thóc: Nhờ có của cải mà tỏ rõ uy lực, quyền thế.

            Tránh hùm mắc hổ: Rủi ro, không thoát khỏi tai họa.

            Trâu lấm vẩy càn: Người có khuyết điểm, có tội lỗi mà cứ đổ vấy cho người khác.

            Trên đe dưới búa: Ở vào tình thế bị kìm kẹp, thúc ép từ nhiều phía, khó bề đối xử và giải quyết cho hợp lý.

            Trên răng dưới dái: Trắng tay, nghèo khổ, không còn chút của cải, tài sản hoặc chức vụ nào.

            Trơ như mặt thớt: Trơ lì, không biết hổ thẹn khi làm điều sai trái dù bị chống đối.

            Trơ tráo như gáo múc dầu: Trơ lì, ngang ngược, không biết hổ thẹn.

            Vắng như chùa bà Đanh: Trở nên vắng lặng, ít người đến, gây nên cảnh u buồn (ở nơi mà trước kia có người hay lui tới).

            Vào trong mắc đó, ra ngoài mắc đăng: Ở vào thế bị kẹt, bí bách, không có lối thoát.      

            Vắt nước không lọt tay: Keo kiệt, giữ từng chút một, không hề mất cho ai cái gì.

            Xôi hỏng bỏng không: Mất tất cả, mất trắng, không được cái gì.

            Trên đây chỉ đơn cử một ít thành ngữ tiếng Việt trên muôn ngàn lời nói trong văn học dân gian. Qua các định nghĩa, ta thấy các thành ngữ cũng thật khó hiểu nếu không tra cứu kỹ mà chỉ nhìn vào nghĩa đen của từng từ thì sẽ có sự hiểu lầm rất tai hại. Ta có thể dùng một thành ngữ làm đề tài cho một bài học để dạy con cháu chúng ta không những về cách dùng tiếng Việt chính xác mà còn về đạo lý làm người nữa.

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

LUẬN BÀN CHỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT

LUẬN BÀN CHỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT

                        

Là người Việt, chúng ta cần phải nói và viết tiếng Việt cho chính xác. Hiện nay có nhan nhản những chữ dùng sai và những lỗi in sai trên các sách báo và trong các buổi phát thanh ở quốc nội cũng như quốc ngoại, tôi thật sự lo lắng tiếng Việt sẽ dần dần mất đi sự chuẩn xác vì chiều hướng sử dụng sai từ ngữ hoặc viết sai chính tả. Thật buồn là một bộ phận giới trẻ chỉ mải mê vào các cuộc giải trí mang tính công nghệ (chat, game online…) mà quên không chịu đọc (hoặc không thích đọc) sách báo nói chung. Phải chịu đọc nhiều, tham gia giao tiếp xã hội, chịu học hỏi thì chúng ta mới hình thành một khả năng ngôn ngữ ổn định, có khả năng trau dồi sự diễn đạt ngôn ngữ của mình và có thể đánh giá được sự đúng sai. Thậm chí ngay trong bài viết này, nhiều người đã không thèm quan tâm (hoặc cho là tôi nói sai) rồi vẫn cứ tiếp tục dùng chữ không chính xác theo ý nghĩ chủ quan của mình.

Tiếng Việt chúng ta phần lớn gồm những tiếng Hán-Việt nên nếu không thông hiểu ngữ nghĩa thì rất dễ sử dụng sai, nhất là đối với các từ cùng âm khác nghĩa. Lúc đầu chỉ có một số người dùng sai, sau đó nhiều người bắt chước dùng theo rồi dùng mãi nghe quen tai nên cứ tưởng là đúng. Tôi thấy nhiều người kể cả một số nhà văn, nhà báo, đều sử dụng một số từ ngữ tiếng Việt không chính xác như sau:

Cặp đôi: Cặp có nghĩa là hai vật hoặc hai cá thể đi đôi với nhau. Đôi có nghĩa là hai vật hay hai cá thể. Người ta nói “đôi vợ chồng” hoặc “cặp vợ chồng”, “đôi tình nhân” hoặc “cặp tình nhân”, “ đôi trai gái” hoặc “cặp trai gái” v.v… Không biết có phải người ta có ý muốn nhấn mạnh hay sao chứ riêng tôi thấy dùng từ ngữ “cặp đôi” (2+2=4) để diễn tả 2 cá thể thì nghe không hợp lý. Mới đây có người dùng từ ngữ “bộ đôi” diễn tả trường hợp này, tôi thấy có vẻ chính xác!

Có ngoại hình: “Ngoại hình” nghĩa là hình thức bên ngoài thì ai cũng có, chỉ khác nhau là đẹp hay xấu thôi! Thế mà có nhiều nơi rao tuyển nữ thư ký hoặc nữ tiếp viên đều nêu “cần tuyển nữ thư ký (hoặc nữ tiếp viên) có ngoại hình” nghĩa là thế nào?

Công hàm độc thân: “Công hàm” là một văn thư chính thức của một chính phủ gởi cho một chính phủ khác như công hàm ngoại giao (diplomatic note) là văn thư trao đổi giữa hai Bộ Ngoại giao của hai chính phủ. Còn cái “giấy chứng nhận chưa kết hôn” do chính quyền địa phương cấp mà người nào đó đã gọi là “công hàm độc thân” rồi các cơ sở dịch vụ di trú bắt chước gọi theo, gọi hoài nghe quen tai cứ tưởng là đúng. Hai chính phủ đâu có trao đổi gì qua cái giấy này!

Chất lượng: Người ta thường đánh giá một sự vật về hai phương diện: số lượng (quantity) và phẩm chất (quality). Bây giờ, người ta thường dùng “chất lượng” để thay thế cho “phẩm chất” là không đúng vì “lượng” có nghĩa là mức độ ít nhiều có thể xác định được, là số nhiều ít chứ không phải là phẩm tính; còn “phẩm chất” là trạng thái trừu tượng không thể tính bằng “lượng” được.

Chuẩn đoán: “Chuẩn đoán” không có nghĩa. Đúng ra là “chẩn đoán” có nghĩa là xem xét để suy đoán bệnh tình (chẩn = nhìn ngó, xem xét).

Chuyển ngữ: “Chuyển ngữ” (danh từ) có nghĩa là ngôn ngữ được dùng làm công cụ truyền thụ kiến thức. Ví dụ: tiếng Việt được dùng làm chuyển ngữ trong  bậc đai hoc. Còn chuyển đổi nội dung văn bản từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác thì gọi là “dịch thuật” (động từ) hay “phiên dịch” (động từ). Ví dụ, phiên dịch một bài báo tiếng Anh sang tiếng Việt. Vậy dùng “chuyển ngữ” (danh từ) để diễn tả hành động phiên dịch một văn bản là sai.

Dưới tuổi vị thành niên và trên tuổi vị thành niên: Theo quy định pháp luật hiện hành của nhiều nước trong đó có Mỹ và Việt Nam thì đời người có 2 độ tuổi rõ ràng: vị thành niên có nghĩa là người chưa trưởng thành (vị = chưa) dưới 18 tuổi và thành niên (= người đã trưởng thành trên 18 tuổi). Vì vậy, không có độ tuổi nào được gọi là dưới hay trên tuổi vị thành niên cả.

Đảng cộng sản Trung cộng: “Trung cộng” có nghĩa là “đảng cộng sản Trung quốc”. Vì vậy, nếu nói “đảng cộng sản Trung cộng” tức là đã nói trùng lặp ý.

Đề kháng: Từ ngữ “đề kháng” được mọi người dùng nên nghe quen tai rồi thấy là đúng chứ thật ra chữ chính xác là “để kháng” (từ Hán-Việt) có nghĩa là chống cự lại.

Đương cáo: Trong một vụ kiện có “nguyên cáo và bị cáo” hoặc “nguyên đơn và bị đơn” chứ không có nhân vật nào được gọi là đương cáo cả! Từ này mới được chỉ có một tác giả vừa sáng tạo nên không có trong từ điển tiếng Việt và trở nên vô nghĩa.

Giải phóng mặt bằng, giải phóng kho bãi: “Giải phóng” nghĩa là làm cho thoát cảnh áp bức hoặc sự tù hãm để được tự do. Ví dụ: phong trào giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ… nhưng bây giờ, người ta dùng từ ngữ “giải phóng” để diễn tả việc dẹp bớt những cản trở để thực hiện một mục đích nào đó như “giải phóng mặt bằng, giải phóng kho bãi…” thay vì “giải tỏa mặt bằng, giải tỏa kho bãi…”

Hạ nghị sĩ: Quốc hội Hoa Kỳ (United States Congress) là cơ quan lập pháp lưỡng viện của Chính quyền Liên bang Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ. Quốc hội Hoa Kỳ  gồm có Hạ viện (House of Representatives, còn gọi là Viện Dân biểu) và Thượng viện (Senate). Hạ viện có 435 thành viên được gọi là “dân biểu” (Representatives và được viết tắt là Rep.). Thượng viện có tổng cộng 100 thượng nghị sĩ (senators). Không có chữ tiếng Anh nào được dịch là “hạ nghị sĩ” nên gọi như thế là sai. Các quốc gia khác như Anh, Pháp… có quốc hội lưỡng viện cũng không dùng chữ nào có nghĩa là “hạ nghị sĩ” hết!

Hạch nhân: Từ ngữ “hạch nhân” không có nghĩa, chỉ có “hạch tâm” hoặc “hạt nhân nguyên tử” nghĩa là phần trung tâm của nguyên tử gồm những phần tử tích điện dương và những phần tử không tích điện.

Hải quan: Hiện nay, trong nước dùng từ “Hải quan” để chỉ cơ quan kiểm soát và đánh thuế xuất nhập cảnh như “Hải quan Tân Sơn Nhất” trong khi Tân Sơn Nhất không có biển (hải) và dùng từ “Thuế quan” để chỉ loại thuế xuất nhập khẩu. Đúng ra chỉ dùng một từ ngữ “Thuế quan” hoặc “Quan thuế” (customs) để chỉ cả 2 trường hợp là loại thuế và cơ quan đánh thuế xuất nhập cảnh.

Hoành tráng: “Hoành tráng” nói về tranh, tượng, tác phẩm nghệ thuật có quy mô đồ sộ. Nếu gọi một ngôi nhà hoặc một đám cưới là “hoành tráng” thì chữ nghĩa đã bị lạm dụng quá đáng!

Hôn phu và hôn thê: Hai từ ngữ này đều vô nghĩa và không có trong tự điển tiếng Việt. Nếu muốn nói là chồng hay vợ chưa cưới thì phải viết hay nói là “vị hôn phu” hoặc “vị hôn thê” (vị = chưa; vị hôn = chưa cưới, dùng để bổ nghĩa cho phu hoặc thê).

Nhân đây, để phân biệt rõ nghĩa của từ, xin nói thêm về từ “vị” là tiếng Hán-Việt có nhiều từ đồng âm khác nghĩa như sau:

* Vị có nghĩa là “chưa” như đã nói trên.

* Vị có nghĩa là “vì” như vị kỷ, vị ngã, vị tha, vị nhân, vị nể, vị quốc vong thân…

* Vị có nghĩa là “chức vụ, ngôi thứ” như danh vị. học vị, chức vị, thoái vị…

* Vị có nghĩa là “từng người” (có ý tôn kính chức vụ, danh hiệu) như quý vị, liệt vị, chư vị, vị vua, vị chủ tịch, vị đại biểu…

* Vị có nghĩa là “chỗ, vị trí” như bài vị, linh vị, yên vị, kế vị, hư vị, đồng vị, hoán vị, nhân vị, phương vị…

* Vị có nghĩa là “cảm nhận được bằng lưỡi” như vị giác, khẩu vị, gia vị, hải vị, mỹ vị, vô vị, vị ngọt, vị mặn…

* Vị có nghĩa là “thứ, nói về thành phần trong tổng thể” như ngũ vị hương, lục vị, bát vị…

* Vị có nghĩa là “từng dược liệu trong thang thuốc đông y” như thang thuốc thập vị, mỗi vị 2 chỉ…

* Vị có nghĩa là “nói” như vị chi (năm với năm vị chi mười), vị ngữ, chủ vị…

* Vị có nghĩa là “tập hợp, loai” như tự vị (từ điển).

* Vị có nghĩa là “dạ dày” như tỳ vị (lá lách và dạ dày).

*Vị có nghĩa là ngôi thứ 8 trong 12 địa chi, còn gọi là “mùi” như tuổi đinh mùi hay đinh vị, tuổi tân mùi hay tân vị v.v…

* Vị có nghĩa là con nhím. Vân vân…

Hỗ trợ: “Hỗ trợ” có nghĩa là giúp đỡ lẫn nhau, đồng nghĩa với “tương trợ” (hỗ = tương = lẫn nhau; trợ = giúp).  Nếu một bên đơn phương giúp bên kia như chính phủ xuất ngân sách giúp người dân trong cơn đại dịch thì không thể gọi là  “tiền hỗ trợ” (vì người dân đâu có giúp lại chính phủ) mà phải gọi là “tiền cứu trợ” hay “tiền trợ cấp” hoăc một luật sư có dịch vụ giúp đỡ đồng hương về mặt pháp lý thì nên dùng từ ngữ  “giúp đỡ pháp lý” (vì đồng hương không giúp gì lại cho người luật sư). Như vậy, nếu đơn phương giúp đỡ người khác thì tùy trường hợp dùng các từ ngữ: giúp đỡ, trợ giúp, trợ lực, ủng hộ, bảo trợ… (không có chữ “hỗ” trong trường hợp này). Còn một cách giúp đỡ nữa gọi là “yễm trợ” (danh từ quân sự) có nghĩa là che chở và giúp đỡ bằng hỏa lực.

Huyền thoại: “Huyền thoại” có nghĩa là câu chuyện sâu kín, huyền hoặc, không đúng sự thật. Vì vậy, những câu chuyện về Lý Tử Long, Trịnh Công Sơn… là những giai thoại chứ không thể gọi là “Huyền thoại Lý Tử Long” hoặc “Huyền thoại Trịnh Công Sơn” v.v…

Lễ vu quy: “Vu quy” có nghĩa là “về nhà chồng”. Trong những thiệp cưới, người ta thường ghi “Trân trọng báo tin lễ thành hôn và vu quy của con chúng tôi”. Thật ra, chữ “lễ thành hôn” đã đủ nghĩa là “lễ cưới” áp dụng cho cả trai lẫn gái và “vu quy” chỉ là một hành động của cô dâu đi về nhà chồng sau lễ cưới, tất nhiên chỉ là một phần trong lễ thành hôn chứ không có một lễ riêng biệt. Cặp trai gái này được gọi là “đôi tân hôn” (căp vợ chồng mới cưới) nên không phải chỉ bên nhà trai mới dùng từ ngữ “tân hôn” mà vì vậy nên bên nhà gái phải treo chữ “vu quy” trước cổng nhà mình để phân biệt (!). Như vậy, cả hai bên đều dùng chữ “HÔN LỄ” để treo trước cổng nhà mình là chính xác nhất! Nói vậy nhưng gần như thành tập quán rồi nên chẳng ai chịu nghe, lại còn sợ làm khác đi thì sẽ bị người ta cười (!)

Măt bằng: “Mặt bằng’ là một khu đất bằng phẳng để xây dựng nhà cửa hoặc làm cái gì trên đó. Ví dụ: mặt bằng của nhà máy, mặt bằng của bến xe v.v… Bây giờ, người ta lại nói “mặt bằng dân trí, mặt bằng kỹ thuật công nghệ…” thì thật khó hiểu! Có lẽ phải nói “về mặt (phương diện) dân trí, về mặt (phương diện) kỹ thuật công nghệ v.v…

Miễn phúng điếu: “Phúng điếu” có nghĩa là mang tiền và lễ vật đến thăm viếng chia buồn cùng tang quyến. Nếu nói là “miễn phúng điếu” tức là miễn cả việc mang lễ vật lẫn thăm viếng. Vì thế, nếu tang gia không muốn nhận tiền hoặc vòng hoa thì phải nói rõ: “miễn tiền phúng điếu” hoặc “miễn vòng hoa phúng điếu”.

Môn đăng hộ đối: Đây là thành ngữ chữ Hán-Việt thường được dùng rất quen tai mà ít ai để ý đến chỗ sai (‘môn đăng’ có nghĩa là “cái đèn trước cửa”). Đúng ra là “Môn đương hộ đối” có nghĩa là nhà cửa ngang nhau, gia đình xứng đáng với nhau, nói về sự tương đương về gia thế giữa hai bên đàng trai và đàng gái trong hôn nhân.

Nhà khoa học gia hoặc nhà chính trị gia v.v…: “Gia” (tiếng Hán-Việt) nghĩa là “nhà” nên chỉ dùng một chữ “nhà” hoặc một chữ “gia” cho khỏi trùng ý (nhà khoa học hoặc khoa học gia, nhà chính trị hoặc chính trị gia, nhà kinh tế hoặc kinh tế gia v.v…).

Quá tam ba bận: Thành ngữ này không có nghĩa gì cả! “Quá tam” (tiếng Hán-Việt) nghĩa là quá ba mà “quá tam ba bận” tức quá ba ba bận là thế nào? Lại còn có người nói “nhất quá tam” (một quá ba) nghĩa là gì? Chính xác phải là “sự bất quá tam” ý nói phàm ở đời, việc gì cũng không nên làm quá nhiều lần, tối đa là ba lần. Ví dụ: Tha thứ kẻ lầm lỗi, chỉ nên tha ba lần, nếu còn tái phạm lần thứ tư thì phải bị trừng phạt. Thất bại trong công việc gì thì đến lần thứ tư cũng phải cố gắng làm cho thành công.

Sát nhập: “Sát nhập” là vô nghĩa. Đúng ra là “sáp nhập” có nghĩa là gom lại làm một. Ví dụ, hai hay ba đơn vị sáp nhập thành một đơn vị.

Tài khoản: “Tài khoản” nghĩa là khoản tiền như tài khoản ngân hàng là khoản tiền gởi tại ngân hàng. “Tài khoản” được dịch từ tiếng Anh là account nên Facebook account. Google account… được dịch là Tài khoản Facebook, Tài khoản Google… trong khi ở các nơi đây không dính líu gì đến đồng tiền cả. Thật ra “account” có 2 nghĩa: 1. Khoản tiền 2. Trương mục (bản kê khai, bản miêu tả) nên mới có sự phiên dịch không đúng. Vì vậy, phải gọi là Trương mục Facebook, Trương mục Google… thì mới chính xác.

Tào khang: Từ ngữ “tào khang” được mọi người dùng nên nghe quen tai rồi cho là đúng chứ thật ra phải nói là “tao khang” mới đúng. “Tao khang” (từ Hán-Việt) được định nghĩa là: 1. Bả rượu và gạo tấm là thức ăn của người nghèo (nghĩa đen). 2. Chỉ người vợ lấy mình từ thuở nghèo nàn (nghĩa bóng). Ví dụ: Nặng tình cát lũy, nhạt tình tao khang (truyện Kiều). Tình cát lũy là mối tình đối với vợ lẻ, tình tao khang là mối tình đối với vợ cả.

Thuyền quyên: Đúng ra là “thiền quyên” nghĩa là đẹp đẽ, duyên dáng nói về người đàn bà, con gái (gái thiền quyên) nhưng người ta thường quen dùng “thuyền quyên” nên mới cứ tưởng là đúng.

Trao đổi ý kiến: “Trao đổi” nghĩa là chuyển qua lại cho nhau những vật tương đương (nhận lại cái gì thay thế cho cái mà mình đã đưa ra). Do đó, ý kiến không thể trao đổi cho nhau mà chỉ có thể thảo luận, tranh luận hay bàn bạc.

Trù trì: Người ta thường nói vị sư “trù trì” một ngôi chùa. Thật ra phải nói là “trụ trì”mới đúng chứ không phải “trù trì” hay “trú trì” vì chữ “trụ” có nghĩa là “còn đấy”. Hễ cái gì đang ở vào thời kỳ còn đấy thì gọi là “trụ”. Trụ trì Phật bảo nghĩa là Phật ở đời mãi mãi. Trụ trì tam bảo nghĩa là Phật tịch rồi nhưng còn tượng Ngài lưu lại. Trụ trì pháp bảo nghĩa là Phật tuy tịch rồi nhưng kinh sách của Ngài còn lưu truyền. Trụ trì tăng bảo nghĩa là Phật tuy tịch rồi nhưng còn các vị xuất gia tu hành kế tiếp làm việc Phật. Vì thế, có một vị sư nào làm chủ trông nom cả một ngôi chùa thì gọi là vị “sư trụ trì”. Cũng như nơi làm việc của một cơ quan gọi là trụ sở như trụ sở ủy ban, trụ sở hội đoàn, trụ sở công ty… Còn “trú sở” là nơi ở tạm, nơi trú quán.

Việt kiều: “Kiều” (tiếng Hán-Việt) có nghĩa là trú ngụ ở nước ngoài. “Việt kiều” là tiếng của người bản xứ (Mỹ, Anh, Pháp v.v…) gọi người Việt trú ngụ tại nước họ như chúng ta gọi người Tàu trú ngụ tại nước mình là Hoa kiều vậy. Còn người Việt trong nước gọi đồng bào mình trú ngụ ở nước ngoài là “kiều bào”. Nói chung, những người dân bất cứ của nước nào đến trú ngụ tại một nước khác thì gọi là kiều dân (= dân trú ngụ ở nước ngoài).

Yếu điểm: “Yếu điểm” (từ Hán-Việt) có nghĩa là điểm chính, điểm trọng yếu (điểm quan trọng và chính yếu). “Điểm yếu” (từ thuần Việt) có nghĩa là điểm yếu kém, đồng nghĩa với “nhược điểm” hoặc “khuyết điểm” (điểm thiếu sót) đều là những từ Hán-Việt. Có rất nhiều người đã hiểu một cách nhầm lẫn “yếu điểm” là “điểm yếu” (!).

 

Thứ Ba, 27 tháng 4, 2021

NGUYÊN TẮC Y DÀI HAY I NGẮN TRONG TIẾNG VIỆT

QUY TẮC Y  DÀI VÀ I NGẮN TRONG TIẾNG VIỆT


Y & I

Khởi đầu từ một tình cờ lịch sử khi Alexandre de Rhodes đến Việt Nam truyền đạo Thiên Chúa, ngôn ngữ Việt Nam thoát khỏi văn hóa chữ Nho (Hán tự) và chữ Nôm, bước sang kỷ nguyên mới kể từ đầu thế kỷ 20. Trong suốt 500 năm từ tình trạng phôi thai, theo bước đi của từng thế hệ và từng thời kỳ lịch sử, chữ Việt và tiếng Việt ngày nay đã là một trong những ngôn ngữ hoàn chỉnh trong lịch sử văn minh nhân loại. Người Nhật và người Nam Triều Tiên cũng từ hàng trăm năm cố công thoát ly ảnh hưởng và phụ thuộc chữ Hán nhưng đã không làm được.

Tuy nhiên, không phải vì vậy mà người Việt chúng ta đã bằng lòng với thành tựu đó. Cả trăm năm nay vẫn có những người bằng sáng kiến, nhận định của mình đã đưa ra những đổi mới, “điều chỉnh” cách viết chữ Việt. Có thể kể từ thế kỷ 19 với học giả Huỳnh Tịnh Của (1734 – 1907) khi ông hoán đổi (y thành i) qua cách viết tên mình (Huỳnh thành Huình). Tiếp đến là Nguiễn Ngu Í (Nguyễn Ngu Ý - 1921 - 1979) nhà thơ, nhà giáo, nhà báo, thế kỷ 20.  

Từ hai nhân sĩ này, hai mẫu tự I và Y đã trở thành “chuyện dài Y dài I ngắn,” thỉnh thoảng được nhắc đi nhắc lại suốt cả trăm năm nay...  
Trước khi tham gia ý kiến câu chuyện dài “Y dài I ngắn”, người viết xin được ôn lại bài học vỡ lòng từ thời mới biết đánh vần chữ Việt a b c…  
Trong chúng ta, ai cũng biết chữ Việt ngày nay xuất xứ từ chữ La tinh do khởi xướng và ghép đặt của giáo sĩ Thiên Chúa giáo Francisco de Pina (1585-1625), tiếp theo là công trình hệ thống hóa của giáo sĩ Alexandre de Rhodes với mục đích để truyền đạo. Chữ Việt hình thành từ một tình cờ lịch sử như thế nên không ít người cho rằng chẳng có ai có công mà cũng chẳng có ai có tội.  
Và chúng ta ai cũng biết chữ La tinh có các mẫu tự sau đây:  
a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z  
Trong đó có 5 Nguyên âm là a e i o u y.  
Khi các nhà ngôn ngữ học (F. de Pina và A. de Rhodes) đầu tiên lấy chữ La tinh sáng chế ra tiếng Việt thì họ đã thêm và bớt một số chữ cái (cả nguyên âm và phụ âm).  
Tiếng Việt từ đầu gồm có 23 chữ cái:  
a b c d đ e g h i k l m n o p q r s t u v x y, trong đó có 6 nguyên âm: a e i o u y.  
Để đáp ứng thanh âm đa dạng trong tiếng Việt, các nguyên âm a e o u biến thể thêm các nguyên âm:  a > ă, â; e > ê; o > ô, ơ; u > ư.  
Từ các nguyên âm đơn, để thích ứng với thanh âm phong phú trong tiếng Việt, chúng ta có các cặp nguyên âm kép như sau:  
 ai ao au ay âu ây ; eo, êu ; ia, iê, iu ; oa, oe, oi ôi, ơi, ơu; ua, uê, ui , uơ, uy , uyê ; ưa, ưi, ưu, ươ ; yê.  
Đây là những cặp thanh âm kép bất khả phân ly để đi với các phụ âm tạo từ ghép chữ.  
Trước khi bàn tiếp, tưởng cũng nên nhắc lại định nghĩa nguyên âm (vowel) là gì và phụ âm (consonant) là gì? Trong quyển “Đại Từ điển Tiếng Việt” (NXB Văn Hóa Thông tin, 1998, tr.1217) định nghĩa: Nguyên âm là “âm mà khi phát âm, luồng hơi từ phổi ra không gặp phải trở ngại, phân biệt với phụ âm.”  
Chúng tôi thấy rằng ở đây là một giải thích về hiện tượng (chưa chắc đã đúng) chứ không phải là một định nghĩa và khi người ta thử nghiệm phát âm chữ a (nguyên âm) và chữ k (phụ âm) thì cả hai phát âm, “luồng hơi từ phổi ra” đều không “gặp trở ngại” gì cả.  
Theo chúng tôi, một định nghĩa về nguyên âm và phụ âm có thể chấp nhận được, theo đó: Nguyên âm là một chữ cái có thể đứng một mình, để xướng lên một từ trọn nghĩa mà không cần ghép với một chữ cái nào khác.  Ví dụ: a dua, o bế, ê chề, y phục chứ ta không thể viết lập l (lập lờ), con d (con dê), ca h (ca hát) v.v...  
Ngược lại, Phụ âm là một chữ được dùng để đi kèm với những nguyên âm và phụ âm khác để cấu tạo thành một từ, một chữ.  
Thí dụ: lập lờ, con dê, o bế, ca hát v..v...  
Từ những dẫn chứng trên đây, chúng ta thấy rằng Y (dài) và I (ngắn) có một quy tắc nhất định trong tiếng Việt. Ngay cả trong Anh ngữ cũng có một nhận định chung quyết, theo đó chữ Y có thể được xem vừa là một nguyên âm vừa là một phụ âm. (The letter Y can be regarded as both a vowel and a consonant).  
Và qua tham chiếu của tác giả Thanh Thanh (*), câu trả lời Y chỉ là một từ thường được dùng cho cả nguyên âm và phụ âm trong Anh ngữ (The answer to the question is that Y is the only letter commonly used as both vowel and consonant in English).  
Tham chiếu này còn ghi thêm: Chữ cái Y đứng trong “yoke” là phụ âm, nhưng chữ Y trong “myth” là nguyên âm (The letter Y stands for a consonant in "yoke" but for a vowel in "myth").  
Đối chiếu với kết luận trên đây về Y và I trong Anh ngữ thì trong Việt ngữ, Y được coi là phụ âm trong các từ yểm (trợ), (yên) ổn, yêu thương, yết kiến…  Tuy nhiên, đúng ra yê lại là một nguyên âm cặp đi với các phụ âm m, n, u, t để tạo chữ yểm, yên, yêu, yết. Vậy có thể kết luận Y và I là hai nguyên âm tuyệt đối trong Việt ngữ.  
Các nhà ngôn ngữ học đầu tiên kiến tạo bộ chữ Việt bằng mẫu tự La tinh đã rất chú trọng đến những âm cặp khi biên soạn bài học vỡ lòng đánh vần chữ Việt, bắt buộc học thuộc lòng 23 chữ cái:  
a b c d đ e g h i k l m n o p q r s t u v x y; Và a ă â e ê i o ô ơ u ư.  
cùng các vần ghép (nguyên âm kép):  
ai ao au ay, ây, eo êu, iu, oi, ôi ơi, ơu, ui, uy, ưu, Và với các phụ âm: ac, ăc âc, am ăm âm, an, ăn ân, ap ăp âp, at ăt ât, v.v...  
- Ghép vần chữ B: Ba bă bâ be bê bi bo bô bơ bu bư.  
- Đến vần chữ C thì ca că câ > ke kê ki > co cô cơ cu cư; kha khă khâ khe khê khi kho khô khơ khu khư  
- Vần chữ G thì ga gă gâ > ghe ghê ghi > go gô gơ gu gư.  
Trong các cặp nguyên âm kép dẫn đầu bài, hai cặp ui và uy ngay từ đầu đã có chỗ đứng riêng rẽ, độc lập của nó, i (ngắn) không thể thay cho y (dài) và ngược lại. U+I đọc là ui và U+Y đọc uy. Căn bản của nguyên-âm-cặp này hai chữ cái là một, là ui và uy, chỉ cần ghép với các phụ âm khác là có thể tạo thành những từ vựng, ví dụ: lui cui, thui thủi, túy lúy, quỵ lụy.... uy tín, hiu hắt, huy hoàng, biên thùy, thâm thúy, quý vị v.v...  
Các nguyên âm cặp:  
Uy+phụ âm > huynh, quỳnh, huỳnh, huỵch (toẹt)...
Uyê + phụ âm > uyên, huyên, quyết
Uya + phụ âm > khuya, phẹc-ma-tuya (zipper)  
Uya, uây, uyê, iêu, oai, uôi, ươi, ươu là những nguyên âm cặp bất khả phân ly, nó như là một nguyên âm đơn, đi theo các phụ âm tạo thành từ ngữ: khuây nguôi, trái khuấy, quây quần, quan liêu, khoái lạc, xuôi dòng, tươi tốt, hươu nai v.v...  
I (ngắn) hay Y (dài) khi đứng cuối chữ:  
I và Y là nguyên âm nên khi nó đứng cuối chữ thì y (dài) hay i (ngắn) đều có thể chấp nhận. Người ta khi đọc thấy các chữ lí luận, kĩ thuật, nước Mĩ, Hoa Kì…  khác với lối viết “truyền thống” lý luận, kỹ thuật, nước Mỹ, Hoa Kỳ thì vội cho là chữ y (dài) đã bị thay thế bởi chữ i (ngắn). Thật ra, y hay i trong trường hợp này đều có cùng giá trị, chỉ khác là do cảm quan của người đọc không quen với cách dùng i hoặc y ở cuối chữ mà thôi.  
Về phương diện mỹ quan và thói quen, viết Y (dài) trong các từ địa lý, kỹ thuật, Hoa Kỳ, kỷ niệm, Ký tên... theo tôi thì nên giữ cách viết “truyền thống” này thay vì dùng i (ngắn). Có những chữ y (dài) và i (ngắn) đã có vị trí cố định, chẳng hạn những chữ sau đây chưa hề thấy hoán vị giữa y và i : thí dụ, bí thư, hoan hỉ, suy nghĩ, sinh khí, nhà in, y phục , y tế, ý niệm…  chứ chưa có chữ viết: thý dụ, bý thư, suy nghỹ, sinh khý, nhà yn, i phục, i tế, í niệm v.v..  
Trong câu dân ca:  
Yêu nhau cởi áo... í.. a cho nhau  
Về nhà mẹ hỏi qua cầu... í.. a gió bay.  
chưa thấy ai viết ý... a thay cho í... a. Và Ký tên luôn luôn là... ký tên, không ai viết Kí tên.  
Trong các trường hợp khác, Y và I đã có phần vụ (function) riêng của nó nên bất khả hoán vị, không thể lấy i thay cho y như trường hợp học giả Huình Tịnh Của và nhà thơ Nguiễn Ngu Í. 
Theo chúng tôi thì hai nhân sĩ này khi dùng chữ I viết tên mình chỉ là một cách chơi chữ, nếu không muốn nói là lập dị, chứ không có chủ đích đề xướng một khuynh hướng. Vì vậy đã mấy trăm năm chưa có một Nguiễn Thuiến (Nguyễn Thuyến) hay một Nguiễn thị Bạch Tuiết (Tuyết) nào khác.  
Sau khi tìm hiểu và truy nguyên, chúng tôi mạnh dạn phổ biến biên khảo ngắn này. Mong được sự góp ý và bổ khuyết của các bậc thức giả.   
Song Nhị  
Trần Văn Giang (ghi lại)  

Thứ Tư, 10 tháng 3, 2021

TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI

TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI

Lời giới thiệu

Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui.

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!

Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi.

Thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!

(“Tình Ca” – Phạm Duy)

TVG

*

Không còn nhớ ai là người đầu tiên dịch “Gone with the wind” thành “Cuốn theo chiều gió” nhưng vị nào dịch câu này hẳn nhiên là bậc thượng thừa về ngôn ngữ nói chung và rất giỏi tiếng Việt nói riêng. Ông Huỳnh Phan Anh cũng khắc tên mình vào bảng mạ vàng khi dịch “For whom the bell tolls” thành “Chuông gọi hồn ai.” Cụ Bùi Giáng cũng thuộc vào nhóm người “giáng thế” khi dịch “Terre des Hommes” (Vùng đất của người) thành “Cõi người ta.”

Cụ Phạm Duy là một bậc tài hoa xuất chúng nữa với các tác phẩm chuyển ngữ lời Việt. Ca khúc “The house of the rising sun” đã được cụ chuyển thành “Chiều vàng dưới mái nhà tranh.” So sánh từng câu từng từ trong các ca khúc chuyển ngữ của thiên tài Phạm Duy, không thể nói gì hơn ngoài sự kính phục tột bậc. Trong “Love Story,” ca khúc rất phổ biến Sài Gòn thập niên 1970 mà cụ Phạm chuyển ngữ, có những chữ được diễn đạt mà chỉ những bậc thượng thừa tiếng Việt mới thể hiện nổi, chẳng hạn “this empty world” thành “cuộc đời vắng ngắt” hoặc “wild imaginings” thành “mộng huyền mênh mang...”

Có một điểm chung giữa những bậc kỳ tài Phạm Duy, Bùi Giáng hoặc vô số văn sĩ, nhạc sĩ cùng thời với họ, là: “Tôi yêu tiếng nước tôi!” Chỉ những người thật sự yêu quý tiếng nói của dân tộc mình mới biết cách làm đẹp ngôn ngữ. Họ nhảy múa với ngôn ngữ. Họ thăng hoa với ngôn ngữ. Họ bay bổng với ngôn ngữ. Sự cuồng nhiệt trong tình yêu ngôn ngữ của họ đã tạo ra một nền văn hóa trong đó tiếng Việt vượt qua cả khái niệm ngôn ngữ như là ký hiệu giao tiếp thuần túy mà vươn lên đến chóp đỉnh của một thứ trừu tượng hơn: Linh hồn dân tộc. “Tôi yêu tiếng nước tôi.” Tình yêu của họ với tiếng Việt đã làm đẹp tiếng mẹ đẻ, làm sang trọng tiếng mẹ đẻ và cuối cùng làm nên một nền văn hóa đẹp đẽ.

Chỉ những giai đoạn tiếng Việt bay bổng thì nền văn hóa mới thăng hoa hay là ngược lại, thật khó có thể nói chính xác nhưng có thể đoan chắc rằng một nền văn hóa xuống cấp luôn đi đôi với việc ngôn ngữ và cách dùng ngôn ngữ xuống cấp. Nó bị dùng sai là một chuyện. Nó bị xem thường mới là điều đáng nói. Khi tiếng Việt không còn được tôn trọng, văn hóa và xã hội sẽ không còn được tôn trọng. Con người cũng không còn được tôn trọng. “Tiếng Việt còn, nước ta còn.” nhưng tiếng Việt bầy hầy như đang thấy trên báo chí hàng ngày, trong các ca khúc được hàng triệu người nghe thì “nước ta” còn gì?

Đừng trông chờ ở những khẩu hiệu “giữ gìn tiếng Việt” hay “làm trong sáng tiếng Việt” hô hào chiếu lệ trong nền giáo dục hiện tại. Tiếng Việt đang bị hỏng không chỉ bởi các MC tung hứng bừa bãi với những câu chữ làm màu “cho sang” như “điểm trang” thay vì phải nói cho đúng là “trang điểm”, không chỉ bởi các phát ngôn viên truyền hình học nhau cách nói rập khuôn hay các nhà báo viết bài không bao giờ xem lại lỗi chính tả, không chỉ bởi những cách dùng sai như “cặp đôi” hay “fan hâm mộ”, không chỉ bởi các từ ghép Hán-Việt vô nguyên tắc như “phượt thủ” v.v…

Nguồn gốc khiến tiếng Việt hư chính là từ giáo dục. Không ngôn ngữ nào có thể bay bổng trong một mô hình giáo dục giáo điều. Chẳng ai có thể sửa lại tiếng Việt với đà tuột dốc của nền giáo dục hiện nay. Muốn “làm trong sáng tiếng Việt”, hệ thống giáo dục phải tự làm trong sáng mình. Điều này sẽ chẳng bao giờ có, không bao giờ thành hiện thực khi mà giáo dục đang nằm dưới bàn chân của những “chủ trương” và “đường lối”… Đừng mong chờ những thay đổi trong nền giáo dục hiện nay, sẽ chẳng có thay đổi gì tích cực cả! Tiếng Việt sẽ tiếp tục bị hành hạ và văn hóa sẽ tiếp tục bị tra tấn.

Dường như không một cá nhân nào có thể cứu được sự xuống cấp của tiếng Việt. Tiếng Việt chỉ có thể được cứu nếu mỗi người trong chúng ta cùng quay lại với con đường “Tôi yêu tiếng nước tôi.” Có một cách thực tế là tìm kiếm và đọc lại những quyển sách của một thời làm nên sự kỳ vĩ một nền văn hóa, một cách thức tự giải độc khỏi những luồng khí đen đang bủa quanh. Nhiều giá trị hiện bị mất đi đang nằm trong những quyển sách đó. Văn hóa sẽ đi lạc vĩnh viễn nếu chẳng có ai tìm đường. Rồi con đường đi tìm văn hóa đã mất có thể sẽ giúp lấy lại ánh hào quang của tiếng Việt và cuối cùng, dẫn đến việc nhìn lại sự cần thiết phải tôn trọng tiếng Việt.

Không người dân nào có thể thay đổi được hệ thống giáo dục hiện tại vì họ không có quyền hạn để làm điều đó. Tuy nhiên, không ai có thể ngăn chặn sự chọn lựa của chúng ta để dung nạp một nền văn hóa khác với “hệ văn hóa” nhồi sọ và tuyên truyền độc hại. Cũng không ai có thể ngăn chặn sự chọn lựa của chúng ta khi đọc những gì nằm bên ngoài phạm vi những bài văn mẫu rập khuôn, những giáo điều ngây ngô hay nên đọc gì trên những các trang mạng xã hội đang bị kiểm soát khắt khe. Đó là sự chọn lựa cần thiết và cấp bách để “Tôi yêu tiếng nước tôi” có thể còn tồn tại và còn có cơ may truyền lại cho hậu sinh.

Mạnh Kim

Trần Văn Giang (ghi lại)

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2021

QUY TẮC Y DÁI I NGẮN TRONG TIẾNG VIỆT

QUY TẮC Y DÀI I NGẮN TRONG TIẾNG VIỆT

Song Nhị 

Trần văn Giang ghi lại  

Khởi đầu từ một tình cờ lịch sử khi Alexander de Rhodes đến Việt Nam truyền đạo Thiên Chúa, ngôn ngữ Việt Nam thoát khỏi văn hóa chữ Nho (Hán tự) và chữ Nôm, bước sang kỷ nguyên mới kể từ đầu thế kỷ 20. Trong suốt 500 năm từ tình trạng phôi thai, theo bước đi của từng thế hệ và từng thời kỳ lịch sử, chữ Việt và tiếng Việt ngày nay đã là một trong những ngôn ngữ hoàn chỉnh trong lịch sử văn minh nhân loại. Người Nhật và người Nam Triều Tiên cũng từ hàng trăm năm cố công thoát ly ảnh hưởng và phụ thuộc chữ Hán nhưng đã không làm được.  

Tuy nhiên, không phải vì vậy mà người Việt chúng ta đã bằng lòng với thành tựu đó. Cả trăm năm nay vẫn có những người bằng sáng kiến, nhận định của mình đã đưa ra những đổi mới, “điều chỉnh” cách viết chữ Việt. Có thể kể từ thế kỷ 19 với học giả Huỳnh Tịnh Của (1734 – 1907) khi ông hoán đổi (y thành i) qua cách viết tên mình (Huỳnh thành Huình). Tiếp đến là Nguiễn Ngu Í (Nguyễn Ngu Ý - 1921 - 1979) nhà thơ, nhà giáo, nhà báo, thế kỷ 20.     

Từ hai nhân sĩ này, hai mẫu tự I và Y đã trở thành “chuyện dài Y dài I ngắn,” thỉnh thoảng được nhắc đi nhắc lại suốt cả trăm năm nay...    

Trước khi tham gia ý kiến câu chuyện dài “Y dài I ngắn”, người viết xin được ôn lại bài học vỡ lòng từ thời mới biết đánh vần chữ Việt a b c…    

Chúng ta, ai cũng biết chữ Việt ngày nay xuất xứ từ chữ La tinh, do khởi xướng và ghép đặt của giáo sĩ Thiên Chúa giáo Francisco de Pina (1585-1625), tiếp theo là công trình hệ thống hóa của giáo sĩ Alexander de Rhodes với mục đích để truyền đạo. Chữ Việt hình thành từ một tình cờ lịch sử như thế, cho nên không ít người cho rằng chẳng có ai có công mà cũng chẳng có ai có tội.     

Và chúng ta ai cũng biết chữ La tinh có các mẫu tự sau đây:   
A b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z  

Trong đó có 6 Nguyên âm là a e i o u y.     

Khi các nhà ngôn ngữ học (F. de Pina và A. de Rhodes) đầu tiên lấy chữ La tinh sáng chế ra tiếng Việt thì họ đã thêm và bớt một số chữ cái (cả nguyên âm và phụ âm).     

Tiếng Việt từ đầu gồm có 23 chữ cái:     

a b c d đ e g h i k l m n o p q r s t u v x y, trong đó có 6 nguyên âm: a e i o u y.     

Để đáp ứng thanh âm đa dạng trong tiếng Việt, các nguyên âm a e o u biến thể thêm các nguyên âm:     

a > ă, â; e > ê; o > ô, ơ; u > ư.     

Từ các nguyên âm đơn, để thích ứng với thanh âm phong phú trong tiếng Việt chúng ta có các cặp nguyên âm kép như sau:     

ai ao au ay âu ây ; eo, êu ; ia, iê, iu ; oa, oe, oi ôi, ơi, ơu; ua, uê, ui , uơ, uy , uyê ; ưa, ưi, ưu, ươ ; yê.    

Đây là những cặp thanh âm kép bất khả phân ly để đi với các phụ âm tạo từ ghép chữ.     

Trước khi bàn tiếp, tưởng cũng nên nhắc lại định nghĩa nguyên âm (vowel) là gì và phụ âm (consonant) là gì? Trong quyển “Đại Từ điển Tiếng Việt” (NXB Văn Hóa Thông tin, 1998, tr.1217) định nghĩa: Nguyên âm là “âm mà khi phát âm, luồng hơi từ phổi ra không gặp phải trở ngại, phân biệt với phụ âm.”  

   

Chúng tôi thấy rằng ở đây là một giải thích về hiện tượng (chưa chắc đã đúng), chứ không phải là một định nghĩa, và khi người ta thử nghiệm phát âm chữ a (nguyên âm) và chữ k (phụ âm) thì cả hai phát âm, “luồng hơi từ phổi ra” đều không “gặp trở ngại” gì cả.     

Theo chúng tôi, một định nghĩa về nguyên âm và phụ âm có thể chấp nhận được, theo đó: Nguyên âm là một chữ cái có thể đứng một mình, để xướng lên một từ trọn nghĩa mà không cần ghép với một chữ cái nào khác.     

Ví dụ: a dua, o bế, ê chề, y phục; Ta không thể nói lập l (lập lờ), con d (con dê), ca h (ca hát) v..v...     

Ngược lại, Phụ âm là một chữ được dùng để đi kèm với những nguyên âm và phụ âm khác để cấu tạo thành một từ, một chữ..     

Thí dụ: lập lờ, con dê, o bế, ca hát v..v...    

Từ những dẫn chứng trên đây, chúng ta thấy rằng Y (dài) và I (ngắn) có một quy tắc nhất định trong tiếng Việt. Ngay cả trong Anh ngữ cũng có một nhận định chung quyết, theo đó chữ Y có thể được xem vừa là một nguyên âm, vừa là một phụ âm. (The letter Y can be regarded as both a vowel and a consonant).     

Và qua tham chiếu của tác giả Thanh Thanh (*), câu trả lời Y chỉ là một từ thường được dùng cho cả nguyên âm và phụ âm trong Anh ngữ (The answer to the question is that Y is the only letter commonly used as both vowel and consonant in English).     

Tham chiếu này còn ghi thêm: Chữ cái Y đứng trong “yoke” là phụ âm, nhưng chữ Y trong “myth” là nguyên âm(The letter Y stands for a consonant in "yoke" but for a vowel in "myth").   

Đối chiếu với kết luận trên đây về Y và I trong Anh ngữ thì trong Việt ngữ Y được coi là phụ âm trong các từ yểm (trợ), (yên) ổn, yêu thương, yết kiến…  Tuy nhiên, đúng ra yê lại là một nguyên âm cặp đi với các phụ âm m, n, u, t để tạo chữ yểm, yên, yêu, yết. Vậy có thể kết luận Y và I là hai nguyên âm tuyệt đối trong Việt ngữ.     

Các nhà ngôn ngữ học đầu tiên kiến tạo bộ chữ Việt bằng mẫu tự La tinh đã rất chú trọng đến những âm cặp khi biên soạn bài học vỡ lòng đánh vần chữ Việt, bắt buộc học thuộc lòng 23 chữ cái:     

a b c d đ e g h i k l m n o p q r s t u v x y; Và a ă â e ê i o ô ơ u ư.     

Cùng các vần ghép (nguyên âm kép):     

ai ao au ay, ây, eo êu, iu, oi, ôi ơi, ơu, ui, uy, ưu, Và với các phụ âm: ac, ăc âc, am ăm âm, an, ăn ân, ap ăp âp, at ăt ât, v.v...     

-Ghép vần chữ B: Ba bă bâ be bê bi bo bô bơ bu bư.  

-Đến vần chữ C thì ca că câ > ke kê ki > co cô cơ cu cư; kha khă khâ khe khê khi kho khô khơ khu khư  

-Vần chữ G thì ga, gă gâ > ghe ghê ghi > go gô gơ gu gư.     

Trong các cặp nguyên âm kép dẫn đầu bài, hai cặp ui và uy ngay từ đầu đã có chỗ đứng riêng rẽ, độc lập của nó, i (ngắn) không thể thay cho y (dài) và ngược lại. U+I đọc là ui và U+Y đọc uy. Căn bản của nguyên-âm-cặp này hai chữ cái là một, là ui và uy, chỉ cần ghép với các phụ âm khác là có thể tạo thành những từ vựng, ví dụ: lui cui, thui thủi, túy lúy, quỵ lụy.... uy tín, hiu hắt huy hoàng, biên thùy, thâm thúy, quý vị v.v..     

Các nguyên âm cặp:  

Uy+phụ âm > huynh, quỳnh, huỳnh, huỵch (toẹt)...
Uyê + phụ âm > uyên, huyên, quyết
Uya + phụ âm > khuya, phẹc-ma-tuya (zipper)  

   

Uya, uây, uyê, iêu, oai, uôi, ươi, ươu là những nguyên âm cặp bất khả phân ly, nó như là một nguyên âm đơn, đi theo các phụ âm tạo thành từ ngữ: khuây nguôi, trái khuấy, quây quần, quan liêu, khoái lạc, xuôi dòng, tươi tốt, hươu nai v.v..  
I (ngắn) hay Y (dài) khi đứng cuối chữ:
     

I và Y là nguyên âm nên khi nó đứng cuối chữ thì y (dài) hay i (ngắn) đều có thể chấp nhận. Người ta khi đọc thấy các chữ lí luận, kĩ thuật, nước Mĩ, Hoa Kì…  khác với lối viết “truyền thống” lý luận, kỹ thuật, nước Mỹ, Hoa Kỳ thì vội cho là chữ y (dài) đã bị thay thế bởi chữ i (ngắn). Thật ra y hay i trong trường hợp này đều có cùng giá trị, chỉ khác là do cảm quan của người đọc không quen với cách dùng i hoặc y ở cuối chữ mà thôi.     

Về phương diện mỹ quan và thói quen viết Y (dài) trong các từ địa lý, kỹ thuật, Hoa Kỳ, kỷ niệm, Ký tên... theo tôi nên giữ cách viết “truyền thống” này, thay vì dùng i (ngắn). Có những chữ y (dài) và i (ngắn) đã có vị trí cố định. Chẳng hạn những chữ sau đây chưa hề thấy hoán vị giữa y và i : thí dụ, bí thư, hoan hỉ, suy nghĩ, sinh khí, nhà in, y phục , y tế, ý niệm…  Chưa có chữ viết: thý dụ, bý thư, suy nghỹ, sinh khý, nhà yn, i phục, i tế, í niệm v.v..    

Trong câu dân ca:     

Yêu nhau cởi áo... í.. a cho nhau  

Về nhà mẹ hỏi qua cầu... í.. a gió bay.     

Chưa thấy ai viết ý... a thay cho í... a. Và Ký tên luôn luôn là... ký tên, không ai viết Kí tên.     

Các trường hợp khác Y và I đã có phần vụ (function) riêng của nó cho nên, bất khả hoán vị, không thể lấy i thay cho y như trường hợp học giả Huình Tịnh Của và nhà thơ Nguiễn Ngu Í. Theo chúng tôi thì hai nhân sĩ này khi dùng chữ I viết tên mình chỉ là một cách chơi, nếu không muốn nói là lập dị, chứ không có chủ đích đề xướng một khuynh hướng. Vì vậy đã mấy trăm năm chưa có một Nguiễn Thuiến (Nguyễn Thuyến) hay một Nguiễn thị Bạch Tuiết (Tuyết) nào khác.  

   

Sau khi tìm hiểu và truy nguyên, chúng tôi mạnh dạn phổ biến biên khảo ngắn này. Mong được sự góp ý và bổ khuyết của các bậc thức giả.