THÀNH PHỐ GIÓ

Bạch Hạc Thành Phố Gió chào mừng Quý Khách


">

Nhãn

  • Ca nhạc (266)
  • Con người và thiên nhiên (52)
  • Địa Lý - Đất Nước (27)
  • Giới Thiệu (5)
  • Khoa Học - Kỹ Thuật (20)
  • Kiến Thức Phổ Thông (25)
  • Lễ Hội (78)
  • Lễ Hội - Phong tục (77)
  • Lịch Sử & Nhân Vật (62)
  • Lời Hay Ý Đẹp (45)
  • Nghệ Thuật (113)
  • Ngôn Ngữ (19)
  • Người Việt khắp nơi (57)
  • Sức Khỏe & Đời Sống (203)
  • Thắng Cảnh - Du Lịch (178)
  • Thơ (179)
  • Thực Phẩm (15)
  • Tôn Giáo (15)
  • Văn Hóa (4)
  • Văn Xuôi - Truyện Ký (155)
  • Video Chọn Lọc (34)
  • Vui Cười (33)
  • Xiếc - Ảo Thuật (31)
Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa Lý - Đất Nước. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa Lý - Đất Nước. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 21 tháng 1, 2024

LƯỢC SỬ CỦA CON ĐƯỜNG CÁI QUAN

 LƯỢC SỬ CỦA CON ĐƯỜNG CÁI QUAN

André Salles


Đường Cái quan còn gọi là đường Quan lộ, đường Quan báo, đường Thiên lý [1], đường xuyên Việt, nay chính là Quốc lộ 1A, chạy dài từ km 0 tại cửa khẩu Hữu Nghị Quan (Lạng Sơn) đến km 2301 + 340m tại thị trấn Năm Căn (Năm Căn, Cà Mau) trên lãnh thổ Việt Nam. Được hình thành dưới thời nhà Lý và kéo dài cho đến tận thời Nguyễn, đường Cái quan đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong kinh tế cũng như quốc phòng. Nó góp phần to lớn trong công tác quản lý đất nước. Do vậy, nhà Nguyễn đã đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng và phát triển tuyến đường huyết mạch này.

Trên đèo Cả, đường Cái Quan ngày 23/4/1898.
1. Lịch sử hình thành:
Trước thời nhà Nguyễn:
Ở buổi đầu dựng nước và sau đó, Việt Nam là một nước chuyên về nông nghiệp, nhân dân chỉ sống trong vòng kinh tế “tự cung tự cấp”, nếu cần giao lưu từ vùng này sang vùng khác người ta thường sử dụng đường thủy. Song về mặt quản lý lãnh thổ, Nhà Nước vẫn phải có đường để nối liền các địa phương. Vì thế, đường bộ Việt Nam đã ra đời.
Trước khi có đường Cái quan, dưới thời Lý Thái Tông (ở ngôi: 1028-1054), ở Việt Nam đã có hệ thống đường Quan lộ. Mỗi tuyến đường được chia ra từng cung, có cắm biển gỗ để chỉ phương hướng, có người cai quản và đặt nhà trạm (tức dịch trạm, cách nhau khoảng 15 - 20 km), chủ yếu là để chuyển công văn [2], tài vật từ kinh đô đi khắp nơi và ngược lại. Đồng thời làm nơi nghỉ chân của các quan lại triều đình trên đường công cán.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân thì đường Cái quan chính thức được xây dựng vào năm Ất Mão (1375) dưới thời nhà Trần để nối liền kinh thành Thăng Long với Thanh Hóa. Đến thời nhà Hồ vào năm 1402, con đường được đắp tiếp vào đến Châu Hóa (Huế). Năm Tân Mão (1471), vua Lê Thánh Tông dẫn quân đi bình Chiêm. Sau chiến thắng Trà Bàn, đạo thừa tuyên Quảng Nam được thành lập vào tháng 6 (âm lịch) năm đó. Để tiện việc coi giữ, nhà vua đã cho tổ chức lại hệ thống giao thông liên lạc thông suốt từ Thăng Long cho đến phủ Hoài Nhơn (Bình Định) bằng đường bộ.
Năm Mậu Ngọ (1558), Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm đất Thuận Quảng, tiếp theo là xảy ra cuộc tranh giành thế lực giữa họ Trịnh và họ Nguyễn (sử cũ gọi là thời Trịnh-Nguyễn phân tranh) kéo dài suốt 2, 5 thế kỷ. Để phục vụ cho chiến tranh, con đường này đã được đôi bên cho sửa sang, mở rộng. Sau đó, đường Cái quan được nối dài theo sự nghiệp mở nước về phương Nam của dân tộc Việt và vào khoảng 1757 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, con đường vào đến đất Hà Tiên.


Ba đường thiên lý của Sài Gòn xưa

Năm 1792, chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau này là vua Gia Long) đã cho đắp đường từ Mỹ Tho qua giồng Kiến Định và bắc cầu Quỳ Tông. Trong năm này, ông đã huy động dân binh đắp đường thiên lý phía nam từ Gia Định dọc theo Giồng Cát xuống Trấn Định, qua Thủ Đoàn, giồng Cai Yến, giồng Tha La, giồng Kỳ Lân, giồng Cai Lữ, giồng Trà Luộc, giồng Cai Lễ, giồng Thủ Triệu, Cái Thia… Hai bên đường thiên lý đặt nhiều quán trạm.
Dưới thời nhà Nguyễn:
Đường Cái quan phát triển mạnh mẽ nhất là triều Nguyễn và thực sự trở thành “huyết mạch kinh tế và hệ thần kinh quản trị quốc gia”.
Sau thời kỳ Nam Bắc phân tranh kéo dài hàng mấy trăm năm, vua Gia Long thấy đường sá giao thông là vấn đề khẩn yếu cho việc chính trị và quân sự nên đã sai quan trấn nhậm các doanh trấn phải sửa chữa, bắc cầu ván qua sông suối và uốn thẳng lại con đường Thiên lý. Cụ thể là vào tháng 3 (âm lịch) năm 1809, nhà vua sai Nguyễn Huỳnh Đức và Lê Chất đi coi công việc sửa đắp đường cái quan các tỉnh là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa. Sách Quốc triều toát yếu (phần Chính biên) chép:
“…Ngài (Gia Long) nghĩ đàng cũ quanh co khiến Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Chất giăng dây cho thẳng, bắt dân sửa lại, cho hoãn việc trưng binh, đình việc tạp tụng, chỗ nào có mồ mả thời cấp tiền cho dân dời đi chỗ khác và trồng cây hai bên đàng” [3].

Các trạm dịch vụ (T) trên đường thiên lý từ sông Hàn đến Huế

Đầu năm 1810, vua Gia Long lại sai Giám thành Nguyễn Văn Học lo việc sửa cầu cống đường sá ở các địa phương Quảng Đức (Thừa Thiên Huế), Quảng Trị, Quảng Bình. Công việc gồm có “đo xem thế đất, lấy dân sửa đắp, cấp cho (dân) lương ăn hàng ngày”. Vua lại dặn thêm Nguyễn Văn Học rằng “… trời mùa hè nóng nực, không nên đúc thốc (dân) làm quá để nới sức dân” [4].
Năm 1812, De la Bissachere trong “Etat actuel du Tonkin de la Cochinchine et les royaumes de Cambodge, Laos et Lac Tho” xuất bản ở Paris (Hiện trạng Bắc Kỳ, Nam Kỳ, các vương quốc Lào, Campuchia và Lạc Thổ) đã mô tả về con đường Cái quan lúc bấy giờ như sau: “… có một con đường lớn nối Phú Xuân và Đông Kinh (Hà Nội). Con đường này đẹp như đường châu Âu… đường tuy không lát gạch đá nhưng chỗ nào không vững chắc thì người ta đổ gạch, đá vụn và đóng cọc để củng cố; đường làm hơi vồng lên ở giữa để thoát nước ra hai vệ đường. Hai bên đường có rãnh thoát nước và trồng cây…”
Đến tháng 10 năm Ất Hợi (1815), vua Gia Long lại sai Tổng trấn Lê Văn Duyệt làm đường từ Sài Gòn đi về phía tây. Bắt đầu từ cửa Đoài Nguyệt ở phía tây thành Bát Quái qua cầu Tham Lương (đường Trường Chinh nay), qua bến đò Thị Sưu, qua đầm Lão Đống, giáp ngã ba đường sứ tới Khê Lăng đến đất Kha Pha (Cao Miên)… Chỗ gặp sông ngòi thì bắc cầu, đầm lầy thì đắp đất, gặp rừng thì đốn cây. Mặt đường rộng 6 tầm (12,72 m), đường thông suốt cho người và ngựa….
Tiếp tục sự nghiệp của vua cha, mới lên ngôi được hai năm (1821), vua Minh Mạng cho phép Bình Thuận huy động dân chúng đi phát chặt những cây rừng rậm rạp ở hai bên đường cái mở rộng thêm mỗi bên 10 tầm .
Năm 1832, vua Minh Mạng lại dụ cho bộ Công: “…đường cái quan có nhiều chỗ núi cao, lính trạm leo trèo, nhân dân đi lại, có nhiều khó khăn trở ngại. Vậy truyền lệnh cho các quan địa phương xem xét địa phận hạt mình, chỗ nào có đá lớn ngăn trở thì đốt cho nát phá bỏ đi, cốt rộng từ 4 – 5 thước trở lên, đủ đi lại được, chỗ nào vì nước mưa lụt chảy xói, lâu ngày thành trũng sâu thì lấy đá lấp đầy hoặc xây thành bậc cho được bằng phẳng rồi ủy cho phủ huyện thuê dân làm, trả công ưu hậu bằng tiền và gạo, rộng cho thời hạn cốt được thành công để lợi ích lâu dài” [5]
Năm 1835, vua Minh Mạng cho đắp các đường bộ ở các tỉnh Nam Kỳ dùng vào việc quan báo, khắc phục việc đi lại chủ yếu bằng đường thủy trước đây. Từ thành Định Tường còn có thêm 3 tuyến đường quan trọng khác: đường từ bắc thành Gia Định đến Định Tường, dài 10.800 trượng (từ Sài Gòn đi Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công, Chợ Gạo đến Mỹ Tho); đường từ cửa tây thành Định Tường đến địa giới tỉnh Vĩnh Long dài 6.600 trượng (từ Mỹ Tho cặp sông Tiền đến Cái Thia); đường từ đông nam thành Vĩnh Long đến địa giới Định Tường (từ Vĩnh Long đến bến đò sang Cái Thia).
Lúc bấy giờ, con đường cũng được chia thành nhiều cung, mỗi cung trung bình dài khoảng 25-30 dặm (15km-20km). Để có chỗ canh phòng, vận chuyển công văn giấy tờ, và làm nơi đón đưa quan lại trú đêm trên đường; ngay từ thời Gia Long, triều đình đã cho dựng ở giữa hai cung một nhà trạm gồm ba gian hai chái bằng gạch ngói hay cây lá theo cùng một kiểu do bộ Công quy định, có hào và tường bao bọc chung quanh, lại có chòi gác bốn phía. Trên cửa ra vào có treo biển khắc tên trạm. Ở mỗi trạm đều có nhiều phu trạm (khoảng 50 người) và ngựa (khoảng 3 con) để làm nhiệm vụ chuyển tải công văn giấy tờ, khiêng cáng và đồ dùng của quan lại qua đường. Quản lý và điều hành sự vụ các dịch trạm trên đường Thiên lý là chức năng của ty Bưu chính, còn việc đưa lệnh của triều đình và thu nhận báo cáo của các địa phương là nhiệm vụ của ty Thông chính sứ. Người của hai cơ quan này phải túc trực ngày đêm để điều hành công việc được thông suốt.

Đường thiên lý Bắc - Nam (màu đỏ) và các trạm dịch vụ trong bản đồ ANĐQHĐ (1858)

Nhìn chung, con đường Cái quan ngày trước cũng chỉ là con đường đất, chạy qua các làng mạc hoang vu, dân cư còn rất thưa thớt, qua những đèo dốc và rừng hoang. Khó khăn chính trên tuyến đường này là chưa bắc được nhiều cầu qua các sông suối, nhất là vào mùa mưa lũ. Và phương tiện đi lại, ngoài ngựa, võng, kiệu, cáng dành cho quan lại với một số xe bò, xe trâu chuyên chở hàng hóa, lương thực, còn hầu hết nhân công đi bộ mang vác.
Sau ngày Thất thủ Kinh đô (tháng 7 năm 1885), thực dân Pháp tiến hành mở rộng con đường đi qua đèo Hải Vân để nối liền cửa biển Đà Nẵng (nơi các chiến hạm của Pháp neo đậu) với Kinh đô Huế. Công trình do Đại úy công binh Besson đảm trách. Thực dân Pháp đã cưỡng bức nhân dân các làng xã lân cận đi làm đường mà không được trả công. Cho đến lúc nào làm xong phần đường của địa phương mình mới được trả về quê quán. Vì quá công phẫn cho nên vào cuối tháng 12 năm 1886, dân chúng đã nổi dậy giết chết viên Đại úy Besson và tiêu hủy toàn bộ các bản thiết kế cùng phương tiện để làm việc làm đường. Sau đó họ đồng lòng bỏ việc tập thể kéo nhau về lại quê hương. Bởi thế để hoàn thành đoạn đường Huế – Đà Nẵng, thực dân Pháp đã gặp nhiều thử thách hết sức khó khăn.
Đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp chú tâm vào việc xây dựng và khai thác các tuyến đường sắt, còn đường bộ chúng bỏ lửng. Mãi cho đến sau năm 1912, Toàn quyền Sarraut mới chú ý trở lại. Năm 1918, thực dân Pháp ký nghị định chia đường bộ Việt Nam thành hai loại: đường thuộc địa (routes colonials) và đường địa phương (routes régionales). Đường thuộc địa (21 đường) do tổng ngân sách Đông Dương đài thọ, đường địa phương do các ngân sách các kỳ phụ trách.
Đường thuộc địa số 1 được vạch theo con đường Cái quan của nhà Nguyễn nối Hà Nội với Sài Gòn. Con đường Cái quan được điều chỉnh lại và mở rộng, lát đá, rải nhựa, xây cầu cống, bến phà và trở thành đường Quốc lộ 1A ngày nay.
2. Trong Văn học Nghệ thuật
Đường Cái quan đã được nhắc đến trong câu ca dao:
Đường cái là đường cái quan,
Chận em ra chợ làm tan chợ rồi.


Nguyễn Thông (1827-1884)
Danh sĩ Nguyễn Thông trong một chuyến đi ra Bình Thuận đã sáng tác bài Long Thành – Phước Tuy đồ trung hoài cảm, trong đó đã nói lên nỗi cực nhọc và hiểm nguy khi đi trên con đường này (dịch từ chữ Hán):
Ve kêu tự chốn nào?
Về tối giọng thêm sầu.
Khách đi mệt muốn nghỉ
Vắng vẻ chốn rừng sâu!
Bên đường hổ đói thét,
Mảnh áo giọt sương thâu…



Để thư giãn cuối tuần, xin mời Quý thính giả nghe lại: TRƯỜNG CA CON ĐƯỜNG CÁI QUAN (NS. Phạm Duy) và HÒN VỌNG PHU (NS. Lê Thương) www.youtube.com

TỦ SÁCH TINH HOA của Thái Hoàng Phi · 13 tháng 11, 2022

Hành trình trên đường Cái quan năm 1898 của André Salles 

Hình ảnh được ông Firmin André Salles, thanh tra thuộc địa kiêm nhiếp ảnh gia, chụp trong chuyến đi dọc đường Cái quan của mình.

Ảnh: Gallica.bnf.fr.

=

Cây cầu trên đường Cái Quan, giữa Tuy Hòa và đèo Cả, Phú Yên năm 1898.
Đoàn tùy tùng của ông André Salles trên đường Cái quan ở Nam Phú Yên.
Khung cảnh tại vũng Hào Sơn, phía Bắc đèo Cả.
Trạm Hòa Sơn ở chân đèo, phía bắc Đèo Cả.
Vượt qua đèo Cả, con đèo dài nhất trên đường Cái quan, ngày 23/4/1898.
Bên bờ vịnh Hòn Khói, Khánh Hòa.
Điểm dừng chân ở một ngôi chùa gần Phan Rí (Bình Thuận) ngày 6/5/1898. Đống đồ đạc là hành lý mang theo.
Các hương chức trong làng đến sân chùa bái lạy ông André Salles, cách chào đón truyền thống dành cho người có chức tước cao hơn.
Viên quan địa phương đến chào hỏi ông quan người Pháp.
Cổng ngôi chùa bên đường Cái quan, nơi nghỉ chân của ông André Salles.
Ruộng muối gần Phan Rí, nhìn từ đường Cái quan.
Trên bến Dương gần Phan Rí, 6/5/1898.
Một góc nhìn khác về bến Dương.
Người dân địa phương trên một con thuyền.
Chuẩn bị lên đường từ bến Duơng để đi thuyền buồm đến Cap St Jacques (Vũng Tàu).
Các nam giới địa phương trên chiếc thuyền buồm đi Vũng Tàu.
(Sưu tầm)

Người đăng: THÀNH PHỐ GIÓ vào lúc 15:27 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: Địa Lý - Đất Nước

Chủ Nhật, 19 tháng 3, 2023

SYDNEY HARBOR BRIDGE

SYDNEY HARBOR BRIDGE


Australia's Sydney Harbour Bridge opens

Up to 1 million citizens celebrate the opening of the magnificent new bridge spanning Sydney Harbour. Nicknamed 'the coat hanger,' it's the world's tallest steel arch bridge and the widest long-span bridge.


Người đăng: THÀNH PHỐ GIÓ vào lúc 17:44 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: Địa Lý - Đất Nước

Thứ Sáu, 10 tháng 3, 2023

BIÊN GIỚI CANADA - HOA KỲ

 BIÊN GIỚI CANADA - HOA KỲ

Mai Thanh Mai


Biên giới Canada - Hoa Kỳ dài gần 9000km kéo dài từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương là đường biên giới dài nhất trên thế giới giữa hai quốc gia. Đây cũng là đường biên giới yên bình nhất, đường biên giới này không hề có biên phòng vũ trang cũng chẳng có cột mốc, hàng rào thép gai, loa phóng thanh gì cả.
Đường biên giới này đi qua các rừng cây, lúc này đường biên rộng 6m không có cây mọc, mỗi bên Mỹ và Canada tự trả kinh phí phụ trách 3m cắt cây để lộ một đường thẳng xuyên rừng.
Đường biên này đi qua cả sông hồ thác nước, nước thì không kẽ đường biên giới được, Mỹ và Canada kệ nó.
Đường biên đi qua cả các con phố, các thị trấn, làng mạc, con phố… lúc này đường biên là các vạch kẽ sơn.


Đường biên đi qua cả những ngôi nhà, đất đai họ sở hữu tư nhân, nhà họ nằm giữa hai quốc gia kệ họ, không ai vào được. Có anh chị chủ sở hữu căn nhà có đường biên đi qua, một lần anh chủ nhà người Mỹ đứng trong nhà và đi ra ban công nhưng ban công của anh lại thò sang đất Canada. Khi đó, tình cờ có sĩ quan Canada đi qua, anh sĩ quan dừng lại đứng dưới phố nhìn lên ban công và nói:
“Chào mừng đến với Canada, chúc quý khách có một chuyến đi vui vẻ“
Đường biên giới này đi qua cả những thư viện, họ kẽ vạch khắp sàn nhà thư viện và để người dân hai nước tự do ra vào thư viện và đọc sách miễn phí.
Đường biên này đi qua cả các quán bar, thông thường mọi người vào quán bar có kẻ vạch biên giới. Lúc mới vào, người Mỹ ngồi một bên, người Canada ngồi bên phần đất của họ, đến lúc ziệu say rồi thì hai bên bắt đầu vượt biên và nhẩy múa 😂
…
Biên giới Mỹ- Canada, đường biên giới nhiều cảm xúc nhất, yên bình nhất và là đường biên nhiều du khách muốn khám phá nhất.



 

Người đăng: THÀNH PHỐ GIÓ vào lúc 13:49 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: Địa Lý - Đất Nước

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2022

CHẾT THẸN

CHẾT THẸN
Sưu tầm


Năm 1905, khi đang hoạt động ở Nhật Bản thì Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ rủ nhau lên Tokyo để tìm một người bạn Trung Quốc có tên Ân Thừa Hiến.
Khi xuống tàu hỏa, Phan Bội Châu liền gọi một người phu xe và đưa cho anh ta tấm danh thiếp của Ân Thừa Hiến để nhờ tìm địa chỉ. Người phu xe này không biết chữ Hán, nên đã đề nghị Phan Bội Châu đợi, để mình tìm một người phu xe khác biết chữ Hán để có thể giúp đỡ.
Cuối cùng, người phu xe biết chữ Hán cũng xuất hiện và đã đưa Phan Bội Châu - Tăng Bạt Hổ đến địa chỉ của Ân Thừa Hiến. Nhưng khi xe đến Chấn Võ Học Hiệu - nơi tá túc của Ân Thừa Hiến thì mới vỡ lẽ, người bạn Trung Quốc này đã chuyển đi nơi khác, và không ai biết "nơi khác" cụ thể ở đâu.
Nghĩ ngợi một lúc, người phu xe liền nói với hai vị khách Việt Nam:
"Xin các ngài cứ chờ tôi một chút, tôi sẽ đi tìm địa chỉ mới của Ân Thừa Hiến rồi quay lại đón 2 ngài".
Hai vị khách Việt Nam đứng chờ từ 2 giờ chiều, đến 3 giờ, rồi 4 giờ chiều vẫn không thấy người phu xe quay lại, liền nghĩ: Tokyo rộng thế này, biết tìm Ân Thừa Hiến ở đâu.
Nhưng đến 5 giờ chiều thì người phu xe bất ngờ quay lại và cho biết đã tìm được nơi cần tìm.
Thế là người phu xe đưa hai vị khách Việt đi thêm 1 tiếng nữa đến một lữ quán có treo biển "Thanh quốc Vân nam lưu học sinh Ân Thừa Hiến". Tất cả cho thấy người phu xe Nhật Bản đã tận tuỵ với công việc của mình như thế nào.
Nhưng chưa hết, khi Phan Bội Châu hỏi tiền công thì người phu xe nói một con số khiến cụ Phan giật mình: "2 hào 5 xu".
Thấy số tiền quá rẻ, Phan Bội Châu rút ra một đồng bạc để trả nhưng người phu xe kiên quyết từ chối với lý do:
"Theo quy định thì từ nhà ga Tokyo đến lữ quán này, giá chỉ là 2 hào 5 xu thôi. Thêm nữa, hai ông vì văn minh nước Nhật mà đến đây, chúng tôi hoan nghênh các ông, chứ không hoan nghênh tiền bạc của các ông. Nếu các ông cho tôi tiền xe vượt quá quy định thì không khác gì coi thường, khinh bạc người Nhật Bản chúng tôi".
Đây là một câu chuyện có thật, được viết lại trong tác phẩm "Tự Phán" nổi tiếng của Phan Bội Châu. Khi kể lại câu chuyện này, đặc biệt là tâm trạng của mình khi hỏi giá tiền người phu xe Nhật Bản, Phan Bội Châu cho biết:
"Sợ nó cũng một nết như phu xe nước mình thì e cũng khốn nạn với vấn đề đòi tiền".
Và sau khi bày tỏ sự cảm thán trước một người phu xe Nhật Bản giàu lòng tự trọng thì Phan Bội Châu đã thốt lên:
"Chao ôi! Trí thức, trình độ dân nước ta xem với tên phu xe Nhật Bản chẳng đáng chết thẹn lắm hay sao"
Người đăng: THÀNH PHỐ GIÓ vào lúc 14:23 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: Địa Lý - Đất Nước

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2022

AI XUÔI VỀ TÂY ĐÔ?

 AI XUÔI VỀ TÂY ĐÔ?

Việt Hải & Mindy Hà

Ngày còn nhỏ tôi được ghé xuống ở chơi tại Cần Thơ khi nghỉ hè,
từ đó tôi có những tình cảm nồng nàn với tỉnh Cần Thơ. Cần Thơ có
vô vàn điều để nói, để nhớ lắm như người Cần Thơ, vườn trái cây,
sông nước, ẩm thực, địa lý thuận lợi như trung tâm của những tuyến
giao thông di chuyển khắp miền Tây, tôi nghe người ta còn gọi Cần
Thơ là Tây Đô. Ngẫm nghĩ lại không sai đâu cho cái tên để gọi này.
Trong bài này tôi mời chị Mindy Hà tiếp tay cho ý kiến về Tây Đô.
Người khác tôi hỏi chuyện về Cần Thơ là người bác ruột của tôi.
Vì đầu thập niên 60, ông nhiệm chức tại tỉnh Cần thơ. Sau đây, tôi
xin được ghi nhận những điều về vùng đất Tây Đô hay Cần Thơ
trong sự mến yêu của tôi.

Cần Thơ là một thành phố lớn, sầm uất, một cửa ngõ ngó ra cả vùng 

hạ lưu sông Cửu Long và là trung tâm kinh tế, văn hóa, một khu vực

đầu não mang tính quan trọng về hành chánh, quân sự, cũng như vị 

trí chiếnn lược, với những tuyến giao thông vận tải trong toàn vùng, 

mà còn liên lạc với quốc tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long và 

một vùng lãnh thổ xứng đáng đại diện cho miền Tây để tiếp xúc và 

giao thương đi những nơi khác.


Sinh hoạt trên sông nước Cần Thơ

Tôi thích ngân nga câu ca dao:

"Cần Thơ gạo trắng nước trong,
Ai đi tới đó lòng không muốn về"

Ý thơ gieo sự đồng thuận trong tôi vì một vùng đất thiên nhiên ưu 

đãi trù phú, dân cư đông đúc, mậu dịch sầm uất, và được gọi là vùng

Tây Đô dưới thời Pháp thuộc vào thế kỷ thứ 19. Theo tài liệu từ Tự 

điển Bách khoa Wikippedia về Cần Thơ, nào, bây giờ chúng ta hãy 

xét qua những yếu tố về Cần Thơ như:

* Lịch Sử:

Từ cuối thế kỷ 18, Mạc Cửu vốn là người Trung Quốc không thần 

phục nhà Thanh, cùng tùy tùng và dân cư theo đường biển kéo vào 

miệt Hà Tiên khai khẩn, lập nghiệp dưới sự bảo hộ của chúa Nguyễn,

được phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên, từ đó cư dân qui tụ ngày 

càng đông. 

Năm 1732, toàn bộ đất phương Nam được Chúa Nguyễn chia làm 3 

Dinh và 1 Trấn gồm: Trấn Biên Dinh (vùng Biên Hòa ngày nay), 

Phiên Trấn Dinh (Gia Định), Long Hồ Dinh (Vĩnh Long) và Trấn 

Hà Tiên. 

Sau khi Mạc Cửu mất, Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha, đẩy mạnh 

công cuộc khai khẩn ra vùng hữu ngạn sông Hậu, đến năm 1739 thì 

hoàn tất với 4 vùng đất mới: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang 

(Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Bạc Liêu) được sáp 

nhập vào đất Hà Tiên. Đây là điểm mốc đánh dấu sự xuất hiện của 

Cần Thơ trên dư đồ Việt Nam.

1739: Tổng trấn Mạc Thiên Tứ mở thêm 4 vùng đất mới và cho nhập

 vào Hà Tiên gồm có: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch 

Giá), Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Bắc Bạc Liêu).

1740: (Năm Canh Thân), Tổng trấn Mạc Thiên Tứ dâng đất mới mở 

cho chúa Nguyễn.

- Chúa Nguyễn Phúc Khoát tiếp thu phần đất mới khai thác. Sau đó,

ra sắc lệnh cải cách khoa cử tạo thêm điều kiện cho hoạt động văn 

hóa cho nhóm Chiêu Anh Các ở Hà Tiên và ở miệt Cần Thơ.

1753: Võ vương Nguyễn Phúc Khoát phái ký lục Bố chính dinh là 

Nguyễn Cư Trinh vào Nam để đôn đồc các cấp thừa hành ở miền 

Nam.

1757: Cần Thơ thuộc đạo Châu Đốc (sau này là An Giang), một trong

ba đạo do Nguyễn Phút Khoát lập sau khi sáp nhập đất Tầm Phong 

Long (Châu Đốc-Sa Đéc) do Mạc Tôn (được Mạc Thiên Tứ dưa về 

nước) hiến đất để tạ ơn.

1777: Quân Tây Sơn diệt các tướng của Chúa Nguyễn là Trần Chính

Vương và Thái Thượng Vương. (Cũng vào năm này, Tham tướng 

Mạc Tử Sanh tử trận ngay bên một con rạch nay còn mang tên Tham

Tướng thuộc phường Xuân Khánh - Cần Thơ). 

Năm 1995, thành phố Cần Thơ do mở rộng đường nên lấp cầu Tham

Tướng lại mang một tên mới là "Xuân Khánh".

1781: Quân Xiêm chiếm Hà Tiên rồi kéo tới Trấn Giang nhưng bị 

đánh trả phải rút lui.

1787: Chúa Nguyễn khôi phục lại đất Hà Tiên.

1808: Nam Bộ chia thành 5 trấn (Phiên An, Biên Hoà, Vĩnh Thanh, 

Định Tường, Hà Tiên). Trấn Giang (Cần Thơ) thuộc trấn Vĩnh Thanh

(Vĩnh Long và An Giang).

1814: Năm Gia Long thứ 12 lập thêm huyện Vĩnh Định (Cần Thơ) 

thuộc phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh.

1832: Tổ chức hành chính, cải tổ toàn diện thời Minh Mạng (sau khi

Lê Văn Duyệt chết), đổi "trấn" thành "tỉnh" và hình thành "Nam kỳ 

lục tỉnh" với các tỉnh: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long,

An Giang, Hà Tiên. Các tỉnh này hợp thành cặp gồm có: Định Biên '

(Gia Định và Biên Hoà), Vĩnh Tường (Vĩnh Long và Định Tường) 

và An Hà (An Giang và Hà Tiên).

Cũng vào năm 1832 (năm Minh Mạng thứ 13),Việt Nam có tất cả 31

tỉnh. Mỗi tỉnh đặt dưới quyền Tổng Đốc hay Tuần phủ, có Bố chính 

sứ, Án sát sứ và Lãnh binh phụ giúp. "Gia Định thành" trước đây nay

được gọi mới là Nam Kỳ (còn gọi là Nam kỳ lục tỉnh). Cần Thơ bấy 

giờ (huyện Vĩnh Định) tách ra khỏi Vĩnh Long, thuộc về tỉnh An 

Giang, phủ Tân Thành.

1839: Vua Minh Mạng đổi tên huyện Vĩnh Định thành huyện Phong 

Phú thuộc phủ Tuy Biên (Châu Đốc, tỉnh An Giang).

1854: Một đội 50 người xin khẩn 2 khoảng đất tổng cộng 200 mẫu 

của làng Trường Thạnh (nay là Cái Răng, Cần Thơ). Đội trưởng 

Nguyễn Văn Tân đứng đơn, có thôn trưởng, hương thông ra dịch 

mục ký tên. Thôn trưởng làng giáp ranh (làng Như Lăng) ký vào để 

xác nhận ranh giới, viên cai tổng cũng ký vào. Đơn này được tổng 

đốc An Hà phê chuẩn. Đồn điền nói trên thu hút dân của làng Trường

Thạnh và cắt đất này ra đến 200 mẫu.

1862: Ngày 5-6, Triều đình nhà Nguyễn ký hoà ước nhượng 3 tỉnh 

miền Đông Nam kỳ cho Pháp.

1864: (Tự Đức thứ 17) triều đình nhà Nguyễn mở kỳ thi Hương cuối

cùng ở Nam kỳ, đặt tại huyện Phong Phú (vì Pháp đã chiếm mất Gia

Định).

1867: Ngày 20/22/24-6, ba tỉnh miền Tây (gồm Vĩnh Long, An Giang

Hà Tiên) bị Pháp chiếm đóng.

- Ngày 25-6-1867, De La Grandière bố cáo trọn xứ Nam kỳ thuộc 

Pháp.

1868: Ngày 1-1, theo Nghị định của Thống Đốc Nam kỳ Bonard, 

huyện Phong Phú (Cần Thơ), được sáp nhập với vùng Bãi Sào (Sóc 

Trăng) thành lập quận đặt dưới quyền cai trị của người Pháp, lập Tòa

bố tại Sa Đéc (hạt Sa Đéc, phủ Tân Thành) gồm có 3 huyện (An 

Xuyên, Vĩnh An và Phong Phú).

- Định Sâm dấy binh khởi nghĩa ở Láng Hầm, Trà Niềng (nay thuộc 

huyện Châu Thành, Cần Thơ), giết tên cai tổng Nguyễn Văn Vĩnh 

rồi rút về đầm lầy Ba Láng.

1870: Đỗ Thừa Luông khởi nghĩa kháng Pháp ở Cần Thơ bị thất bại,

nổi dậy lần thứ hai ở Cái Tàu (Cà Mau) lấy U Minh làm căn cứ.

1872: Ngày 30-4, Thống đốc Nam kỳ ra Nghị định sáp nhập Phong 

Phú với vùng Bắc Tràng (trước đây là phủ Lạc Hoá, tỉnh Vĩnh Long)

lập thành hạt Tòa bố đặt tại Trà Ôn. Tòa bố hoạt động được một năm 

thì dời về Cái Răng (Cần Thơ).


Chợ Cần Thơ

Cần Thơ là thành phố cửa ngõ của cả vùng hạ lưu Cửu Long giang, 

là trung tâm kinh tế, văn hóa, đầu mối quan trọng về giao thông vận 

tải cho toàn khu vực và liên vận quốc tế của vùng đồng bằng châu 

thổ sông Cửu Long và của cả nước. Một vùng mệnh danh thiên 

nhiên ưu đãi bởi gạo trắng nước trong trong câu ca dao:

"Cần Thơ gạo trắng nước trong,
Ai đi tới đó lòng không muốn về"

Ý thơ cho thấy phần nào nói về một vùng đất trù phú, sầm uất, được 

gọi là Tây Đô từ thời Pháp thuộc vào thế kỷ 19. Về phương diện địa 

lý của Cần Thơ thì diện tích là 2.965 km2. Thống kê về dân số năm 

2004 cho biết Cần Thơ có 1.121.141 người, và Cần Thơ tiếp giáp 

với 6 tỉnh: phía bắc giáp An Giang, Đồng Tháp, phía nam giáp Sóc 

Trăng, Bạc Liêu, phía tây giáp Kiên Giang, phía đông giáp Vỉnh Long.

Thành phố Cần Thơ không có núi mà chỉ toàn đồng bằng và sông 

rạch. Sông Hậu Giang rất quan trọng về kinh tế, có bến bấc Cần Thơ

gần tỉnh lỵ là nơi tiếp nhận các tàu biển lớn. Kinh rạch trong tỉnh rất 

nhiều và tiện cho việc giao thông.

Phía bắc có kinh Xà No, kinh Cầu Sắc, kinh Thốt Nốt, kinh Thị Đôi,

kinh Ô Môi, sông Cần Thơ. Phía nam có kinh Cái Lớn, kinh Long 

Mỹ, kinh Phụng Hiệp... Quận Phụng Hiệp ở giữa bảy con kinh, từ 

đây dân chúng có thể đi Sóc Trăng, Rạch Giá, Cà Mau hoặc ra hai 

sông Tiền Giang, Hậu Giang đi lên Sài Gòn.

Quốc lộ 4 và liên tỉnh lộ 27 là trục giao thông đường bộ quan trọng 

nối Cần Thơ với các tỉnh lân cận. Hai phi trường đặt ở Bình Thủy và

Trà Nóc thuộc quận Châu Thành. Các tuyến đường lớn chạy qua tỉnh

là quốc lộ 1A, quốc lộ 80, quốc lộ 91. Cần Thơ là trung tâm giao 

thông thủy bộ của cả vùng Nam Bộ, nối liền với Campuchia. Cần 

Thơ có bến cảng khá lớn tiếp nhận tàu 5.000 tấn.

Nói về khí hậu thì nóng ẩm nhưng tương đối ôn hòa hơn tỉnh Tây 

Ninh có cái nắng gắt lắm như khí hậu chung của miền Nam có hai 

mùa mưa và nắng rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11. Mùa khô

từ tháng 12 đến tháng 4. Cần Thơ cách Sài Gòn 169 km (hay 105 

miles), từ xa xưa đã được coi là trung tâm lúa gạo của miền Tây 

Nam phần, bây giờ Cần Thơ là một trong những tỉnh sản xuất và 

xuất cảng gạo chính cho sản lượng của cả nước.

Với đất đai Cần thơ vốn dĩ phì nhiêu, bên ngoài gạo ra, còn nổi tiếng 

về cây ăn trái, như các loại cây trái vùng nhiệt đới: xoài, mận, nhản, 

măng cụt, vú sửa, mãng cầu, mít, sầu riêng,... Cần Thơ còn có nguồn

thủy sản khá dồi dào chính yếu là tôm, cá nước ngọt (hơn 5.000 mẫu

ao đầm nuôi tôm, cá nước ngọt) và chăn nuôi gà, vịt và heo.


Chợ Nổi Trên Sông

Về các địa danh du lịch thì Cần Thơ có khá nhiều nơi để khách 

phương xa thăm viếng. Những công trình xây cất như đình, chùa hay

phong canh cảnh thiên nhiên:

* Khu Du lịch Cồn: gồm Cồn Ấu, Cồn Khương, Cồn Sơn, Cồn Tân 

Lộc nằm liền kề dọc theo sông Hậu, tuyến du lịch đường thủy quốc 

tế từ Campuchia ra biển Đông. Trong tương lai sẽ là những khu du 

lịch sinh thái hấp dẫn mang những đặc trưng miệt vườn, sông nước 

mà các nơi khác không có được.

* Chợ nổi Phong Điền: thuộc xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền. Chợ 

thường nhóm họp vào khoảng 4-5 giờ sáng đến 7-8 giờ thì tan dần. 

Từ tờ mờ sáng, những người dân quê đã hối hả bơi chèo chở theo 

các loại sản phẩm từ vườn nhà ra chợ bán. Ngoài ra, còn có ghe của 

những thương nhân lái từ vùng trên đổ xuống, miệt dưới chạy ngược

lên đưa hàng của phố thị và đặc sản của miền xa về nhóm họp làm 

cho chợ nổi trên sông càng thêm tấp nập.

* Chợ nổi Cái Răng: nằm cách trung tâm thành phố Cần Thơ khoảng

5 km theo hướng quốc lộ về tỉnh Sóc Trăng. Từ tờ mờ sáng cho đến 

chiều tối, hàng trăm ghe xuồng ở các nơi khác về đây tập trung tấp 

nập buôn bán trên sông. Thời gian họp chợ trên ghe xuồng đông nhất 

từ 6 giờ đến 8 giờ sáng. Chợ nổi Cái Răng có sức trao đổi thương 

mại phồn thịnh có thể trở thành chợ trung tâm mua bán lớn nhất 

trong càc loại chợ.

* Khu Du lịch Phù Sa: ở giữa lòng sông Hậu, cách trung tâm thành 

phố chưa đầy 1km theo đường chim bay là bãi bồi cồn Ấu, có diện 

tích khoảng 30 mẫu. Đây được xem là khu nơi du lịch khá sinh động

lớn nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long.

* Chợ hoa xuân bến Ninh Kiều: Chợ hoa bắt đầu từ giữa tháng chạp 

và kéo dài đến đêm giao thừa. Đây là chợ hoa truyền thống có từ 

hàng chục năm nay. Dịp này hàng trăm loại hoa đẹp được trồng từ 

miệt vườn được các tay chơi hoa sành điệu đem ra trưng bày, số 

lượng người trong và ngoài nước đến tham dự thưởng ngoạn rất đông.

* Vườn du lịch Thủy Tiên: Nằm trên Quốc lộ 91 đi hướng về An 

Giang, cách trung tâm Cần Thơ 15 cây số. Tại đây cây trái sum suê 

quanh năm, không khí trong lành khiến lòng du khách dễ cảm mến 

vị ngon ngọt của nhiều loại trái cây đồng bằng và các món ăn dân dã

đồng quê miền Nam.

* Mộ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa: thuộc phường An Thới, quận Bình 

Thủy. Mộ xây bằng đá ong vào năm 1872. Toàn bộ khu vực mộ rộng

530 m2. Cách ngôi mộ chính về phía sau khoảng một thước là ngôi 

đền thờ cụ Bùi Hữu Nghĩa. Lễ giỗ của cụ tổ chức linh đình hàng 

năm vào ngày 21 tháng giêng. Khu bia mộ của nhà thơ Bùi Hữu 

Nghĩa được xếp hạng Di tích văn hóa.

* Đình Bình Thủy: thuộc quận Bình Thủy, Đình ra đời cách đây trên

150 năm, Đình Bình Thủy là cách gọi của dân gian, còn có tên chính

thống là "Long Tuyền cổ miếu" với khuôn viên khang trang rộng rãi.

Đình Bình Thủy được xem là một di tích có lối kiến trúc nghệ thuật 

độc đáo.

* Hội Linh Cổ Tự: Chùa còn có tên gọi khác là Hội Long Tự hay 

Chùa Xẻo Cạn thuộc phường An Thới, quận Bình Thủy. Hội Linh 

Cổ Tự được xây cất năm 1907, sau đó được trùng tu lại năm 1914. 

Chùa Hội Linh là một công trình kiến trúc mang nhiều giá trị nghệ 

thuật cổ kính.

* Chợ cổ Cần Thơ: Chợ còn gọi là chợ Hàng Dương hay "chợ Lục 

tỉnh", nằm trên đường Hai Bà Trưng. Chợ nay đã hơn trăm tuổi. Chợ

mang một nét rất cá biệt, rất độc đáo của đồng bằng châu thổ. Với 

nhà lồng chợ cổ Cần Thơ, thành phố có thêm một địa điểm tập họp 

mua bán nhờ ngành du lịch, thu hút nhiều du khách trong và ngoài 

nước thăm viếng, mua sắm khi đến thăm vùng đất Tây Đô.

* Chùa Ông: tọa lạc số 32 Đường Hai Bà Trưng, Phường Tân An, 

quận Ninh Kiều. Tên Hán tự là Quảng Triệu Hội Quán (theo càc đại 

tự được ghi ở tiền điện). Chùa thờ Quan Thánh Đế quân (tức Quan 

Công) ở chính điện nên người dân địa phương quen gọi là Chùa Ông.

Ngôi chùa được xây dựng vào năm Quang Tự thứ 20 (1894) và tồn 

tại cho đến ngày nay với lối kiến trúc cổ xưa vẫn còn nguyên vẹn từ 

hình dáng bên ngoài đến nét chạm trổ công phu nội điện. Chùa Ông 

được xem là di tích văn hóa mang tính cách lịch sử, một điểm du lịch

nổi bật của Cần Thơ.

* Bến Ninh Kiều: bến sông nhìn thẳng ra ngã ba sông Hậu, sông Cần

Thơ mỗi buổi bình minh lên, mặt trời mọc trên dòng sông tuyệt đẹp. 

Bạn có bao giờ thức thức những bữa cơm chiều tại bến sông và để 

ngắm buổi chiều tà khi hoàng hôn buông xuống từ bến Ninh Kiều 

cho không gian thơ mộng hay một buổi ăn trên thuyền rồng thả trôi 

lững lờ trên dòng Hậu Giang, nghe thanh âm bài vọng cổ mà lòng bồi hồi:

"Người ta đã có đôi rồi
Chiếu chăn đâu ấm bằng người tình chung,
Để mình vác cặp chiếu bông
Chờ đợi chi nữa uổng công đợi chờ"


Nét Đẹp Sông Nước Cần Thơ

Phải chăng bài vọng cổ hôm nào "Tình Ca Anh Bán Chiếu" của soạn

giả Viễn Châu chạnh lòng lữ khách vì làn ngân du dương, mượt mà. 

Bến Ninh Kiều là nơi neo đậu, tàu thuyền mang khách đến và đi thật

tấp nập, thật nhộn nhịp. Bến Ninh Kiều là nơi du lịch để khách 

phương xa đến thăm viếng với sự hiếu kỳ và rồi ra đi với kỷ niệm 

xao xuyến với thiên nhiên bến nước sông ngòi mênh mông trong 

mộng nhớ về vùng Tây Đô.

Nhạc sĩ Lâm Hoàng sáng tác nhạc phẩm "Ninh Kiều Em Gái Cần 

Thơ", âm điệu ca phát âm giọng miềnn Nam, bài ca khi người trai 

nhớ về người em gái Ninh Kiều cho anh xao xuyến nhớ về kỷ niệm:

"Ai về miệt dưới Hậu Giang
Cho tôi nhắn gửi đôi hàng ước mơ
Ninh Kiều em gái Cần Thơ
Bao năm anh vẫn thương chờ đợi mong
Anh giờ ngàn dặm xa xăm
Thương em gái nhỏ bên hàng dừa xanh
Ninh Kiều là của riêng anh
Nũng nịu mà duyên đáng bên bờ Tây Đô
Nhớ ngày xưa bắt bước lên đường
Tặng em bài hát đến trường
Kỷ niệm hai đứa bên nhau
Mơ ngày nói chuyện trầu cau
Đôi mình tình nặng trăm năm
Chung vui pháo đỏ rượu hồng ngày xanh
Ninh Kiều là của riêng anh
Nũng nịu càng duyên dáng, chân thành của anh"

Tôi tham khảo sách Cần Thơ Xưa của tác giả Huỳnh Minh, trang 206

đến 218 thì bến Ninh Kiều khi xưa có tên là bến Lê Lợi vì bến nằm 

dọc theo đường Lê Lợi, nó còn có tên khác là bến Hàng Dương vì 

dưới thời Pháp thuộc, những hàng dương được trồng dọc theo vệ 

đường trông rất thẫm mỹ. Về nếp dân sinh thì bến Lê Lợi là nơi tập 

trung các ghe thương buôn, dần dà bến được chỉnh trang lại, những 

cây dương được đốn bỏ. Kế hoạch kiến thiết đô thị để đem nét mỹ 

quan, làm đẹp thành phố, đến ngày 4 tháng 8, năm 1958, bến Ninh 

Kiều được khánh thành rất khang trang với công viên ghế đá. Theo 

tôi được kể lại thì đây là sáng kiến được ông Trưởng ty Công chánh 

Trương Thành Kháng đề xướng. Khi phác họa ra dự án xây dựng bến

Ninh Kiều thời Đốc phủ sứ Đỗ Văn Rước, dự án đem cho Cần Thơ 

có bến Ninh Kiều mà thơ hay nhạc đều ghi nhận nét đặc trưng của nó:

"Phong Dinh có bến Ninh Kiều
Có dòng sông đẹp có nhiều giai nhân
Cuộc đời luồng những phù vân
Trở về bến cũ cố nhân xa vời!"

Kể chuyện về nguồn gốc bên Ninh Kiều từ một bến ghe thương buôn tầm thường ở bờ sông Cần Thơ đến một bến Ninh Kiều tượng trưng cho một địa danh 

kiểu mẫu của quốc gia, hẳn rằng người dân Cần Thơ yêu quý nó lắm.

"Cần Thơ có bến Ninh Kiều
Mỗi chiều thứ bảy ngưới nhiều như nêm
Đẹp xinh cảnh sắc về đêm
Nhìn sông thấy nước nhớ thêm tình người"

Với tôi, Việt Hải, năm 1959 khi bác tôi, thiếu tá Trần Cửu Thiên, về 

nhiệm chức tỉnh trưởng Cần Thơ đã kể rằng những dự án công chánh

do ông Trưởng ty Thành Kháng đóng góp như thiết lập lộ 19, lộ 20, 

lấp Rạch Sáu Thanh, xây cầu Rạch Ngỗng, xây Bến Xe Mới và lấp 

khu đầm lầy để xây dựng Quân Y Viện Cần Thơ. Nói như vậy để thấy

rằng ông Trương Thành Kháng thực hiện nhiều điều công ích cho 

Cần Thơ. Khi ngồi đây viết bài này, tôi không biết ông bây giờ ở đâu Những lời này như để cám ơn ông.

Bến Ninh Kiều

Như vậy thì tên bến Ninh Kiều phát xuất từ đâu? Nguồn gốc là vì 

bến nằm dọc theo đường Lê Lợi nên người ta đã đặt cho nó cái tên 

quá đẹp là bến "Ninh Kiều" như để nhắc nhở một chiến tích oai hùng

của Bắc Bình Vương Lê Lợi tại bến Ninh Kiều ở đất Bắc xa xưa.

"Tuy Động thây phơi đầy đất
Ninh Kiều máu chảy thành sông"

Trận ác chiến tại bến Ninh Kiều ghi dấu sự vẻ vang quân Việt chiến 

thắng quân Minh. Cũng theo dòng sử ký, tại sao chúng ta có tên Cần

Thơ? Ngày xưa chuyện kể tương truyền rằng khi vua Nguyễn Phúc 

Ánh bị đạo quân của vua Quang Trung đánh đuổi, ông chạy vào miền

Nam ẩn náu ở Cần Thơ, nhận thấy con sông Cần Thơ quá mỹ miều 

ông bèn đặt tên cho nó là "Cẩm Thi Giang" mang ý nghĩa con sông 

của vẻ đẹp thi ca đàn hát rồi trong dân gian, người ta nói trại đi chữ 

"Cẩm Thi" thành chữ "Cần Thơ".

Qua phần trình bày từ lịch sử, địa lý về Cần Thơ hay một Tây Đô của

vùng đồng bằng sông Hậu, đến những địa danh của Phong Dinh mà 

trong đó có bến Ninh Kiều được ôn về kỷ niệm hình thành và phát 

triển, chúng tôi muốn gởi bài viết này đến những thân hữu Cần Thơ, 

đặc biệt đến đặc san liên trường Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm

2009. Riêng tôi, Việt Hải, xin kính gởi đến bác ruột của tôi, chính là 

người cho tôi dịp gần gũi với Cần Thơ của thuở thiếu thời để rồi 

trong trí nhớ đó của tôi mãi yêu Cần Thơ như yêu người tình.


Tham Khảo:

Tự điển Bách Khoa Wikippedia Online về Cần Thơ.
Sách Khảo Cứu Cần Thơ Xưa, tác giả Huỳnh Minh.


 

Người đăng: THÀNH PHỐ GIÓ vào lúc 05:20 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: Địa Lý - Đất Nước
Bài đăng cũ hơn Trang chủ
Đăng ký: Bài đăng (Atom)

REVOLVERMAPS

BÂY GIỜ LÀ

Bạn là Người xem thứ

30 Bài Mới Nhất

  • TRANH VẼ NHƯ CHỤP
  • THƠ TÁM CHỮ
  • CHÚC MỪNG GIÁNG SINH 2012
  • (không có tiêu đề)
  • MƯỜI MỘT BỨC ẢNH LỊCH SỬ
  • QUÂN TRỊ CHỦ NGHĨA VÀ DÂN TRỊ CHỦ NGHĨA
  • CŨNG MỘT THỜI CON GÁI
  • BIÊN GIỚI CANADA - HOA KỲ
  • TẢN MẠN VỀ BIA
  • BẢY KỲ QUAN PHẬT GIÁO THẾ GIỚI

Trang

  • Trang chủ
  • Weblinks
  • Nhạc Chọn Lọc
  • Vui Cười

Tuấn Ngọc Album


Bài Đăng Theo Tháng

  • ▼  2024 (10)
    • ▼  tháng 11 (1)
      • Thơ CHO NGƯỜI TÌNH LỠ... - Nhạc: Romance - Destiny...
    • ►  tháng 3 (3)
    • ►  tháng 2 (2)
    • ►  tháng 1 (4)
  • ►  2023 (33)
    • ►  tháng 12 (3)
    • ►  tháng 11 (4)
    • ►  tháng 10 (1)
    • ►  tháng 9 (3)
    • ►  tháng 8 (3)
    • ►  tháng 7 (1)
    • ►  tháng 5 (3)
    • ►  tháng 3 (6)
    • ►  tháng 2 (5)
    • ►  tháng 1 (4)
  • ►  2022 (61)
    • ►  tháng 12 (3)
    • ►  tháng 11 (3)
    • ►  tháng 10 (4)
    • ►  tháng 9 (7)
    • ►  tháng 8 (11)
    • ►  tháng 7 (3)
    • ►  tháng 6 (5)
    • ►  tháng 5 (7)
    • ►  tháng 4 (6)
    • ►  tháng 3 (2)
    • ►  tháng 2 (4)
    • ►  tháng 1 (6)
  • ►  2021 (96)
    • ►  tháng 12 (11)
    • ►  tháng 11 (6)
    • ►  tháng 10 (8)
    • ►  tháng 9 (5)
    • ►  tháng 8 (1)
    • ►  tháng 7 (10)
    • ►  tháng 6 (11)
    • ►  tháng 5 (9)
    • ►  tháng 4 (3)
    • ►  tháng 3 (7)
    • ►  tháng 2 (17)
    • ►  tháng 1 (8)
  • ►  2020 (97)
    • ►  tháng 12 (6)
    • ►  tháng 11 (10)
    • ►  tháng 10 (1)
    • ►  tháng 9 (3)
    • ►  tháng 8 (10)
    • ►  tháng 7 (8)
    • ►  tháng 6 (5)
    • ►  tháng 5 (16)
    • ►  tháng 4 (16)
    • ►  tháng 3 (10)
    • ►  tháng 2 (7)
    • ►  tháng 1 (5)
  • ►  2019 (93)
    • ►  tháng 12 (6)
    • ►  tháng 11 (6)
    • ►  tháng 10 (8)
    • ►  tháng 9 (2)
    • ►  tháng 8 (1)
    • ►  tháng 7 (12)
    • ►  tháng 6 (9)
    • ►  tháng 5 (8)
    • ►  tháng 4 (11)
    • ►  tháng 3 (8)
    • ►  tháng 2 (5)
    • ►  tháng 1 (17)
  • ►  2018 (133)
    • ►  tháng 12 (7)
    • ►  tháng 11 (6)
    • ►  tháng 10 (11)
    • ►  tháng 9 (11)
    • ►  tháng 8 (8)
    • ►  tháng 7 (10)
    • ►  tháng 6 (5)
    • ►  tháng 5 (18)
    • ►  tháng 4 (11)
    • ►  tháng 3 (14)
    • ►  tháng 2 (16)
    • ►  tháng 1 (16)
  • ►  2017 (164)
    • ►  tháng 12 (18)
    • ►  tháng 11 (12)
    • ►  tháng 10 (11)
    • ►  tháng 9 (8)
    • ►  tháng 8 (6)
    • ►  tháng 7 (12)
    • ►  tháng 6 (11)
    • ►  tháng 5 (22)
    • ►  tháng 4 (7)
    • ►  tháng 3 (9)
    • ►  tháng 2 (16)
    • ►  tháng 1 (32)
  • ►  2016 (198)
    • ►  tháng 12 (17)
    • ►  tháng 11 (23)
    • ►  tháng 10 (24)
    • ►  tháng 9 (10)
    • ►  tháng 8 (12)
    • ►  tháng 7 (14)
    • ►  tháng 6 (14)
    • ►  tháng 5 (15)
    • ►  tháng 4 (15)
    • ►  tháng 3 (10)
    • ►  tháng 2 (25)
    • ►  tháng 1 (19)
  • ►  2015 (278)
    • ►  tháng 12 (19)
    • ►  tháng 11 (23)
    • ►  tháng 10 (19)
    • ►  tháng 9 (16)
    • ►  tháng 8 (19)
    • ►  tháng 7 (16)
    • ►  tháng 6 (31)
    • ►  tháng 5 (23)
    • ►  tháng 4 (29)
    • ►  tháng 3 (30)
    • ►  tháng 2 (31)
    • ►  tháng 1 (22)
  • ►  2014 (232)
    • ►  tháng 12 (18)
    • ►  tháng 11 (25)
    • ►  tháng 10 (18)
    • ►  tháng 9 (10)
    • ►  tháng 8 (24)
    • ►  tháng 7 (21)
    • ►  tháng 6 (28)
    • ►  tháng 5 (34)
    • ►  tháng 4 (20)
    • ►  tháng 3 (10)
    • ►  tháng 2 (13)
    • ►  tháng 1 (11)
  • ►  2013 (255)
    • ►  tháng 12 (21)
    • ►  tháng 11 (15)
    • ►  tháng 10 (14)
    • ►  tháng 9 (2)
    • ►  tháng 8 (10)
    • ►  tháng 7 (10)
    • ►  tháng 6 (9)
    • ►  tháng 5 (4)
    • ►  tháng 4 (5)
    • ►  tháng 3 (3)
    • ►  tháng 2 (11)
    • ►  tháng 1 (151)
  • ►  2012 (55)
    • ►  tháng 12 (55)

Gallery Of Art

BLOG YÊU THÍCH

  • Anne Khánh Vân
  • Cao Niên Việt Hạc
  • Chia sẽ kiến thức văn hóa
  • Lãng Phong
  • Lê thị Kim Oanh
  • Long Hồ Vĩnh Long
  • Mai Thanh Truyet Envirovn
  • Người Phương Nam
  • Nhìn Ra Bốn Phương
  • Tản Mạn Đó Đây

Contact

THÀNH PHỐ GIÓ
Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi

Liên kết

  • lylang.blogspot.com

Người theo dõi

Nhận xét

Đăng nhận xét

https://www.blogger.com/profile/13855471094959620238 Mời bạn click vào hàng chữ "không có nhận xét nào" bên trên đẻ ghi nhận xét của mình vào.
Đăng nhận xét. Chủ đề Cửa sổ hình ảnh. Được tạo bởi Blogger.