Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch Sử & Nhân Vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch Sử & Nhân Vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2024

TRẦN HƯNG ĐẠO

TRẦN HƯNG ĐẠO

(Trích trong Wikipedia)


Trần Hưng Đạo (chữ Nho: 陳興道; 1228 – 1300), tên thật là Trần Quốc Tuấn (chữ Nho: 陳國峻), tước hiệu Hưng Đạo đại vương (hay Hưng Đạo vương) , là một nhà chính trị, nhà quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Việt thời Trần. Sau khi qua đời dân gian đã suy tôn ông thành Đức Thánh Trần (德聖陳) hay còn gọi là Cửu Thiên Vũ Đế (九天武帝). Ông được biết đến trong lịch sử Việt Nam với việc chỉ huy quân đội đánh tan hai cuộc xâm lược của quân Nguyên – Mông năm 1285 và năm 1288. Phần lớn tài liệu nghiên cứu lịch sử và cả dân gian thời sau thường dùng tên gọi vắn tắt là "Trần Hưng Đạo" thay cho cách gọi đầy đủ là "Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn", vốn bao gồm tước hiệu được sắc phong cho ông. Ông là 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.[1]

Là con của thân vương An sinh vương Trần Liễu và là cháu nội của Trần Thái Tổ, Trần Hưng Đạo có mối quan hệ mật thiết với hoàng tộc họ Trần và vua Trần Nhân Tông gọi ông bằng bác. Năm 1257, ông được vua Trần Thái Tông phong làm đại tướng chỉ huy các lực lượng ở biên giới đánh quân Mông Cổ xâm lược. Sau đó, ông lui về thái ấp ở Vạn Kiếp. Đến tháng 10 âm lịch năm 1283, nhà Nguyên (sau khi Mông Cổ thống nhất Trung Hoa) đe dọa đánh Đại Việt lần hai, Hưng Đạo vương được Thượng hoàng Trần Thánh Tông, và vua Trần Nhân Tông (lần lượt là em họ và cháu họ ông) phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội cả nước. Trên cương vị này, năm 1285, ông lãnh đạo quân sĩ chặn đứng đội quân xâm lược do hoàng tử thứ chín Thoát Hoan. Sau những thất bại ban đầu, quân dân Việt dưới sự lãnh đạo của hai vua Trần, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và Hưng Đạo vương phản công mạnh mẽ, phá tan quân Nguyên trong các trận Hàm Tử, Chương Dương, Trường Yên, Vạn Kiếp,... đánh đuổi hoàn toàn quân Nguyên khỏi biên giới.

Năm 1288, quân Nguyên trở lại xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Khi tiếp tục được phong Quốc công tiết chế; Hưng Đạo vương khẳng định với vua Trần Nhân Tông: "Năm nay đánh giặc nhàn". Ông đã áp dụng thành công chiến thuật của Ngô Quyền, đánh bại hoàn toàn thủy quân nhà Nguyên do các tướng Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi chỉ huy trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng, buộc quân Nguyên lại phải rút về nước. Tháng 4 âm lịch năm 1289, Trần Nhân Tông chính thức gia phong ông làm "Đại vương" dù chức quyền đứng đầu triều đình khi đó vẫn thuộc về Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải.

Sau đó, ông lui về Vạn Kiếp đến khi mất năm 1300. Trước lúc qua đời, ông khuyên Trần Anh Tông: "Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc".[2] Ngoài ra, ông còn để lại các tác phẩm kinh điển như Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư đặt nền móng cho nghệ thuật quân sự Việt Nam kể từ thời Trần đến ngày nay.

BA LẦN CHỐNG QUÂN NGUYÊN - MÔNG

LẦN THỨ NHẤT (1258)

Trần Hưng Đạo trở thành võ quan nhà Trần lúc nào không rõ, chỉ biết vào tháng Chín (âm lịch) năm Đinh Tỵ (1257), ông được giao trách nhiệm phòng thủ biên giới trước thời điểm quân Mông Cổ xâm lược vào tháng 12 năm 1257. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Tháng 9 (1257), (vua Trần Thái Tông) xuống chiếu, lệnh cho tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới (phía Bắc) theo sự tiết chế của Quốc Tuấn".[11]

Tuy nhiên, các sử liệu của cả hai nước như Đại Việt sử ký toàn thư, Nguyên sử, An Nam chí lược đều không đề cập chi tiết về vai trò của Hưng Đạo vương trong các trận đánh lớn của cuộc chiến. Các ngày 12-13 tháng 12 âm lịch năm 1257 (tức 17-18 tháng 1 năm 1258), quân Mông Cổ do đại tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangkhadai) chỉ huy đánh bại quân Đại Việt do vua Trần Thái Tông đích thân chỉ huy tại 2 trận Bình Lệ Nguyên và Phù Lỗ, buộc nhà vua rời bỏ kinh thành Thăng Long, lui về giữ sông Thiên Mạc. Quân Mông Cổ tiến vào Thăng Long nhưng lâm vào tình cảnh thiếu lương thực trầm trọng, phải chia quân đi cướp phá các làng mạc xung quanh kinh thành và vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân dân địa phương, khiến cho quân lực Mông Cổ rệu rã, bị cô lập hoàn toàn tại Thăng Long, đánh mất thế chủ động trước quân Trần.

Tận dụng lợi thế này, ngày 24 tháng 12 âm lịch năm 1257 (tức 28 tháng 1 năm 1258), thái sư Trần Thủ Độ và thượng tướng quân Lê Phụ Trần hộ giá vua Trần Thái Tông cùng thái tử 18 tuổi Trần Hoảng ngự lâu thuyền tiến quân đến Đông Bộ Đầu, đánh tan quân Mông Cổ, giải phóng Thăng Long. Chiến tranh kết thúc, vua Thái Tông nhường ngôi cho thái tử Hoảng, tức vua Trần Thánh Tông. Vua Thánh Tông phong cho em là Trần Quang Khải chức Thái úy, tước Đại vương. Trần Quốc Tuấn vẫn giữ nguyên tước cũ và trở về thái ấp ở Vạn Kiếp. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Theo quy chế nhà Trần, các vương hầu đều ở phủ đệ nơi hương ấp của mình, khi chầu hầu thì đến kinh đô, xong việc lại về phủ đệ. Như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Chẩn ở Chí Linh đều thế cả".

LẦN THỨ HAI (1285)

Năm 1279, đế quốc Mông Cổ tiêu diệt nhà Nam Tống, lập ra nhà Nguyên, trở thành mối đe dọa tiềm tàng cho nước Đại Việt ở phía bắc. Triều đình nhà Trần đã đề phòng, chuẩn bị kháng cự. Vua Trần Thánh Tông sai Trần Quốc Tuấn mở trường dạy võ nhằm đào tạo con em hoàng tộc và những người tài giỏi trong nước. Ông thường đi khắp các lộ, kiểm soát các giảng võ đường địa phương, thu dụng nhiều nhân tài hào kiệt như Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Chế Nghĩa, Đỗ Hành,...[12]

Đầu năm 1277, Trần Thánh Tông thân chinh thảo phạt các bộ tộc thiểu số ở động Nẫm Bà La (nay thuộc Quảng Bình). Trần Quang Khải đi theo hộ giá. Ghế Tể tướng bỏ không, vừa lúc có sứ phương Bắc đến. Thượng hoàng Trần Thái Tông gọi Trần Quốc Tuấn tới, tỏ ý định lấy ông làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc. Trần Quốc Tuấn trả lời:

"Việc tiếp sứ giả, thần không dám từ chối, còn như phong thần làm Tư đồ thì thần không dám vâng chiếu. Huống chi Quan gia đi đánh giặc xa, Quang Khải theo hầu mà bệ hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, e có chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng Quan gia và Quang Khải. Đợi khi xa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh cũng chưa muộn".

Khi Thánh Tông trở về, việc ấy lại bỏ đấy, vì hai người vốn không ưa nhau.[13]

Sau đó, Trần Quốc Tuấn chủ động gạt bỏ hiềm khích với Trần Quang Khải vì việc nước. Một hôm, Trần Hưng Đạo từ Vạn Kiếp tới, Trần Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới trở về. Trần Quang Khải vốn sợ tắm gội, Trần Hưng Đạo thì thích tắm thơm, từng đùa bảo Trần Quang Khải: "Mình mẩy cáu bẩn, xin tắm giùm", rồi cởi áo Trần Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông và nói: "Hôm nay được tắm cho Thượng tướng". Trần Quang Khải cũng nói: "Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho". Từ đó, tình nghĩa qua lại giữa hai ông ngày càng tốt.[14]

Đầu năm 1281, hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt sai Sài Thung đem ngàn quân hộ tống nhóm Trần Di Ái về nước. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Sài Thung ngạo mạn vô lễ, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh. Quân sĩ Thiên Trường ngăn lại, Thung dùng roi ngựa quất họ bị thương ở đầu... Vua (Trần Nhân Tông) sai Trần Quang Khải đến sứ quán khoản tiếp. Thung nằm khểnh không ra, Quang Khải vào hẳn trong phòng, hắn cũng không dậy tiếp. Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn nghe thấy thế, tâu xin đến sứ quán xem Thung làm gì. Lúc ấy Quốc Tuấn đã gọt tóc, mặc áo vải. Đến sứ quán, ông đi thẳng vào trong phòng. Thung đứng dậy vái chào mời ngồi. Mọi người đều kinh ngạc, có biết đâu gọt tóc, mặc áo vải là hình dạng nhà sư phương Bắc. Ông ngồi xuống pha trà, cùng uống với hắn. Người hầu của Thung cầm mũi tên đứng sau Quốc Tuấn, chọc vào đầu đến chảy máu, nhưng sắc mặt Quốc Tuấn vẫn không hề thay đổi. Khi trở về, Thung ra cửa tiễn ông..."[15]

Năm 1282, nhà Nguyên sai Toa Đô mang quân vượt biển đánh Chiêm Thành ở phía nam Đại Việt. Chiến tranh giữa Đại Việt với nhà Nguyên đến gần. Tháng Mười (âm lịch) năm 1283, để chuẩn bị kháng chiến lần hai, Trần Hưng Đạo được thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông phong làm Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân. Ông chọn các quân hiệu tài giỏi, cho chia nhau chỉ huy các đơn vị quân đội. Tháng Tám (âm lịch) năm sau (1284), ông cho duyệt quân ở bến Đông Bộ Đầu (gần dốc Hàng Than, Hà Nội ngày nay), đọc bài "Hịch tướng sĩ" nổi tiếng, rồi chia quân đóng giữ Bình Than và các nơi hiểm yếu khác.[13]

Tháng 7 âm lịch năm 1284, nhà Nguyên sai Vân Nam vương Thoát Hoan, A Lý Hải Nha tập trung 50 vạn quân ở hành tỉnh Hồ Quảng, dự đinh sang năm xâm lược Đại Việt. Tháng 11 âm lịch năm 1284, vua Trần Nhân Tông sai Trần Phủ đi sứ sang hành tỉnh Hồ Quảng xin hoãn binh. Khi trở về, Trần Phủ báo tin Hốt Tất Liệt lấy danh nghĩa mượn đường đánh Chiêm Thành, mang đại quân tiến vào đất Việt. Đầu năm 1285, quân Nguyên ồ ạt hợp công từ 2 phía, Thoát Hoan vượt biên giới phía bắc của Đại Việt, còn Toa Đô đánh lên phía bắc, up hiếp vùng Thanh Hóa-Nghệ An. Hưng Đạo vương đốc quân đánh chặn ở biên giới nhưng thất bại, nhưng thế bật lợi hơn nên rút quân về Vạn Kiếp. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Trần Quốc Tuấn nhờ có người gia nô trung thành là Yết Kiêu kiên quyết giữ thuyền đợi chủ tướng, đã rút lui an toàn. Sử chép rằng:[13]

"Trước đây, Hưng Đạo Vương có người nô là Dã Tượng và Yết Kiêu, đối xử rất hậu. Khi quân Nguyên tới, Yết Kiêu giữ thuyền ở Bãi Tân, Dã Tượng thì đi theo. Đến lúc quan quân thu trận, thủy quân tan cả. [Hưng Đạo] Vương định rút theo lối chân núi. Dã Tượng nói:"Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương thì nhất định không dời thuyền".Vương đến Bãi Tân, chỉ có thuyền Yết Kiêu vẫn còn ở đó. Vương mừng lắm, nói:"Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng chim thường thôi".Nói xong cho chèo thuyền đi, Kỵ binh giặc đuổi theo không kịp. Vương đến Vạn Kiếp, chia quân đón giữ ở Bắc Giang."

Thủy quân Nguyên do Ô Mã Nhi chỉ huy tấn công vào Vạn Kiếp, quân Nguyên vây quân của Trần Quốc Tuấn. Một trận thủy chiến lớn giữa 2 bên đã diễn ra. Vua Trần đã đem quân đến trợ chiến cho Trần Quốc Tuấn. Ô Mã Nhi đã không ngăn nổi quân Đại Việt nên rút lui. Toàn bộ quân Đại Việt rút khỏi Vạn Kiếp, Phả Lại, Bình Than về dàn trận bên bờ sông Hồng gần thành Thăng Long. Quân Nguyên tiến theo đường bộ về Thăng Long.[16] Để bảo toàn lực lượng và thực hiện kế "thanh dã" (vườn không nhà trống), Trần Hưng Đạo ra lệnh rút quân.

Quân xâm lược vào Thăng Long rồi dẫn quân đuổi theo vua Trần xuống phủ Thiên Trường (vùng Nam Định). Trong tình cảnh nguy khốn, thượng hoàng Thánh Tông lo ngại, vờ hỏi Hưng Đạo vương xem có nên hàng không. Ông khảng khái trả lời "Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng".[17]

Sau trận quân Đại Việt phản công quân Nguyên không thành và việc mặt trận Thanh-Nghệ bị tan vỡ (do sự phản bội của Trần Kiện), đại quân Việt lâm vào thế bị ép từ 2 mặt Bắc-Nam. Trần Hưng Đạo đưa thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông rút về vùng bờ biển thuộc địa phận Quảng Ninh và Hải Phòng ngày nay, là nơi mà quân Nguyên chưa vươn tới. Trong hành trình rút lui, quân Đại Việt bị quân Nguyên đuổi gấp. Trước thế quân Nguyên Mông bức bách, ông đưa hai vua Trần ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ nguyên (sông Ba Chẽ, thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay), rồi sai người đưa thuyền ngự ra Ngọc Sơn tránh địch. Lúc ấy, xa giá nhà vua đang phiêu giạt, lại còn mối hiềm cũ của Trần Liễu, nên có nhiều người nghi ngại. Trần Quốc Tuấn theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt sắt nhọn. Mọi người đều gườm mắt nhìn. Trần Quốc Tuấn liền rút đầu sắt nhọn vứt đi, chỉ chống gậy không mà đi, bởi vậy hai vua Trần và mọi người khỏi nghi ngại.[18]

Khi thấy đạo quân của Toa Đô đã rời Thanh Hóa tiến lên đóng ở Trường Yên (Ninh Bình), ngày 7 tháng 4 năm 1285, Trần Hưng Đạo lại đưa 2 vua Trần cùng đại quân vượt biển vào Thanh Hóa, thoát khỏi thế bị kìm kẹp của đối phương.[19] Hàng loạt tông thất nhà Trần ra hàng quân Nguyên như hoàng tử Trần Ích Tắc, các hoàng thân Trần Lộng, Trần Kiện.

Tháng 5 (dương lịch) năm ấy (1285), ông vạch kế hoạch tổng phản công. Chỉ sau một tháng chiến đấu quyết liệt với quân Nguyên, các cánh quân Đại Việt do Trần Hưng Đạo cùng Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật chỉ huy giành thắng lợi ở Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp,... quân dân Đại Việt đã tiến vào Thăng Long, Thoát Hoan bỏ chạy. Trần Hưng Đạo và anh là Hưng Ninh vương Trần Quốc Tung dẫn hơn 2 vạn quân tấn công quân Nguyên ở bờ bắc sông Hồng. Quân Nguyên đại bại rút chạy về phía Bắc.[20] Quân Đại Việt do con Trần Hưng Đạo là Trần Quốc Hiến (công tử Nghiễn) chỉ huy truy kích đến tận biên giới, quân Nguyên phải giấu Thoát Hoan trong ống đồng mà chạy.[21] Trong cuộc chiến này, quân Đại Việt giết được tướng Nguyên là Toa Đô và Lý Hằng.

LẦN THỨ BA (CUỐI NĂM 1287)

Tháng 3 âm lịch năm 1286, hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt sai Thượng thư tỉnh Áo Lỗ Xích (Auruyvci), Bình chương sự Ô Mã Nhi (Omar) huy động 50 vạn quân, rồi sai hành tỉnh Hồ Quảng đóng 300 thuyền chiến, định đến tháng 8 hội quân ở Khâm Châu, Liêm Châu. Hốt Tất Liệt còn sai quân ba hành tỉnh Giang Chiết, Hồ Quảng, Giang Tây chuẩn bị đánh Đại Việt, mượn danh nghĩa đưa phản thần nhà Trần là Trần Ích Tắc về làm An Nam Quốc vương. Tháng 6 âm lịch, vua Trần Nhân Tông xuống chiếu cho vương hầu, tôn thất chiêu mộ binh sĩ. Nhà vua hỏi Hưng Đạo vương:[22]

"Thế giặc năm nay thế nào?".[22]

Trần Quốc Tuấn trả lời:[22]

“Nước ta thái bình lâu ngày, dân không biết việc binh. Cho nên, năm trước quân Nguyên vào cướp, thì có kẻ đầu hàng trốn chạy. Nhờ uy tín của tổ tông và thần võ của bệ hạ, nên quét sạch được bụi Hồ. Nay nếu nó lại sang thì quân ta đã quen việc chiến trận, mà quân nó thì sợ phải đi xa. Vả lại, chúng còn nơm lớp cái thất bại của Hằng, Quán không còn chí chiến đấu. Theo như thần thấy, phá được chúng là điều chắc chắn.”— Trần Quốc Tuấn

Vua Trần Nhân Tông cử Hưng Đạo vương thống lĩnh vương hầu luyện tập binh sĩ, sửa sang khí giới, đóng thuyền chiến. Tháng 2 âm lịch năm 1287, nhà Nguyên điều động quân Mông Cổ, quân Hán Nam (người Hán ở miền Nam Trung Quốc), quân 3 hành tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng, quân Vân Nam, quân người Lê ở 4 châu ngoài biển, chia làm nhiều cánh tràn vào Đại Việt. Vạn hộ Trương Văn Hổ dẫn quân thủy chở 70 vạn thạch lương theo sau. Hốt Tất Liệt còn lập Chinh Giao Chỉ hành thượng thư tỉnh do Bình chương sự Áo Lỗ Xích, các Tham tri chính sự Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đứng đầu; cơ quan này phải chịu sự sai khiến của Thoát Hoan. Các quan Đại Việt xin bắt tráng đinh sung quân để quân đội đông hơn, nhưng Hưng Đạo Vương không đồng ý:[22]

“Quân quý ở tinh nhuệ, không quý ở số đông. Dẫu đến 100 vạn quân mà như Bồ Kiên thì cũng làm gì được?”— Trần Quốc Tuấn

Ngày 14 tháng 11 âm lịch 1287, Trịnh Xiển báo tin cánh quân Vân Nam của Nguyên đánh ải Phú Lương. Trần Nhân Tông hỏi Hưng Đạo vương: "Năm nay đánh giặc thế nào?". Ông vẫn quả quyết: "Năm nay đánh giặc nhàn".[22] Lần này biết nhà Trần đã phòng bị ở Thanh - Nghệ, Thoát Hoan tiến thẳng vào từ phía bắc và đông bắc. Sau những cuộc đụng độ bất lợi ở biên giới, quân Đại Việt rút lui. Khác với lần trước, Trần Hưng Đạo không bỏ kinh đô mà tổ chức phòng thủ ngay tại Thăng Long. Tháng 2 năm 1288, quân Nguyên công thành, quân Đại Việt nấp trong thành bắn tên ra. Trần Quốc Tuấn sai Trần Cao vài lần đến trại Thoát Hoan xin giảng hoà, nhưng ban đêm thường kéo ra từng toán nhỏ đánh lén vào trại quân Nguyên, đốt phá lương thực rồi rút lui. Thoát Hoan điều quân ra ngoài truy kích, nhưng quân Đại Việt thường ẩn nấp khó phát hiện ra.[23] Quân Nguyên bao vây tấn công vài lần không có kết quả, cuối cùng phải rút lui.

Trong khi đó, đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ bị Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư chặn đánh và tiêu diệt ở Vân Đồn. Thoát Hoan rút khỏi Thăng Long về hành dinh ở Vạn Kiếp. Do bị thiếu lương và bệnh dịch, Thoát Hoan buộc phải rút lui, một ngả của thủy quân do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy, một ngả của bộ binh do Thoát Hoan chỉ huy. Trần Hưng Đạo bố trí lực lượng mai phục ở cửa sông Bạch Đằng, trực tiếp tiêu diệt toàn bộ binh thuyền của Ô Mã Nhi vào tháng Tư (âm lịch) năm Mậu Tý (1288), bắt sống Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp và Tích Lệ Cơ. Thoát Hoan dẫn quân bộ tháo chạy theo đường Lạng Sơn, dọc đường bị quân Việt đón đánh khiến "quân sĩ mười phần, tổn hại mất 5, 8 phần".[24]

TRẬN BẠCH ĐẰNG (1288)

Đây là trận đánh nổi bật nhất trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ ba, mang tính chất khẳng định cũng là lần cuối cùng quân Nguyên - Mông xâm lược Đại Việt.

Thủy quân Nguyên vốn không biết về chu trình thủy triều của sông. Trước ngày diễn ra trận đánh quyết định này, ông đã đoán tuyến đường tháo chạy của địch và nhanh chóng cho quân cắm cọc gỗ vót nhọn ở đáy sông, tạo thành thế trận cọc ngầm độc đáo giống như thời các bậc danh tướng thời trước như Ngô Quyền, Lê Hoàn. Khi Ô Mã Nhi cho quân vào sông, nước còn lên cao che hết cọc gỗ, Hưng Đạo vương cử các tàu nhỏ ra đánh rồi giả vờ thua chạy. Quân Đại Việt vừa rút lui, vừa đánh trả. Khi nước xuống, toàn bộ thủy quân Nguyên bị mắc kẹt. Ngay lập tức, Hưng Đạo vương sai tướng Nguyễn Khoái dẫn quân Thánh dực phá tan quân Nguyên. Thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông đưa đại quân tiếp chiến, quân Nguyên tử thương vô số, theo Đại Việt Sử ký Toàn thư: "nước sông do vậy đỏ ngầu cả". Cuối cùng, 400 thuyền quân Nguyên bị đốt cháy hết. Nội Minh tự Đỗ Hành bắt 2 tướng Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ Ngọc dâng lên vua Trần.[25]

Chủ Nhật, 18 tháng 2, 2024

TIỄN NGƯỜI VỀ VỚI TIỀN NHÂN

TIỄN NGƯỜI VỀ VỚI TIỀN NHÂN

HOÀNG LAN CHI

7/2022

1963. Tôi học đệ tứ. Người Tổng Thống “thần tượng” khi ấy của tôi là Kennedy, đẹp trai, vị Tổng Thống trẻ nhất có Phu nhân thanh lịch.

1963. Tôi chứng kiến nhiều sự việc: Học sinh, sinh viên xuống đường. Chùa bị bao vây. Bà Ngô Đình Nhu lên Đài Phát Thanh rủa xả thầy chùa. Huế đau thương. Huế quằn quại. Rồi cách mạng. Rồi sau đó là tin bàng hoàng: Kennedy bị ám sát. Không lâu sau khi ông Ngô Đình Diệm bị giết.

“Cô bé” mười bốn tuổi không thể hiểu vì sao một đại cường quốc như Hoa Kỳ lại không thể điều tra được thủ phạm. Chỉ vài năm sau, khi qua mốc 18, khi trưởng thành, khi “đọc” được nhiều hơn, “cô bé” mới hiểu. Nhất là cuốn sách viết về gia đình Kennedy, cứ người nào manh nha bước vào con đường chính trị là bị ám sát. Thật đáng sợ!

2022, tôi thảng thốt khi được tin Shinzo Abe đã qua đời. Thật tình, tôi không cảm tình với nước Nhật vì qua lịch sử, tôi không  thể nào quên những “tàn bạo” của nước Nhật khi chiếm đóng Việt Nam. Đại Hàn giờ này vẫn còn ôm mối hận với Nhật vì những gì binh lính Nhật đã xử với phụ nữ Đại Hàn trong thời kỳ chiếm đóng. Tôi của thuở sinh viên đã ước mơ Việt Nam sẽ “vượt qua” được Nhật. Khi ấy, Hòn Ngọc Viễn Đông hơn xa Thái Lan, Nam Dương, Cao Miên, Lào…Chúng ta chỉ “thua Nhật”. Tình cảm “ không thích” kéo dài tận bây giờ nhưng cái “không thích” ấy không cản được sự ái mộ của tôi dành cho Abe. Dòng dõi trâm anh thế phiệt và tiếp nối gia thế, rạng danh tông môn. Thế mà NHÓM QUYỀN LỰC NGẦM, cái nhóm đã “bóp méo cuộc bầu cử Hoa Kỳ 2020”  kết hợp với ma quỷ để hạ sát người đàn ông tài ba ấy. Không phủ nhận tôi có cảm tình cũng là vì ông là “bạn thân, cùng chí hướng” với Tổng Thống 45 Trump của tôi.

Ông còn trẻ quá, 67 tuổi. Kiến thức, tài ba ấy cho dù không trực tiếp điều hành nhưng vẫn có thể là cố vấn.  Bọn khốn. Chúng tính giết hết nhân tài của thế giới sao? Chúng muốn hăm he những người ủng hộ Tổng Thống 45 Trump sao? Tôi tin là Trump không sợ. Tôi có chút lo lắng và như thường lệ chỉ biết hàng ngày cầu nguyện cho ông.

Nhìn hình ảnh Trump-Abe tươi cười bên nhau thấy buồn lòng.

Nhìn hình ảnh chiếc xe tang đen đưa ông về nhà, tôi ứa nước mắt.

Hỡi ôi, một kiếp người. Rồi chỉ thế sao? Lẽ ra ông phải được sống, tiếp tục cống hiến cho tổ quốc của ông. Và ở tuổi 80, ông sẽ hiền hòa dưới cội anh đào mỗi sớm mai, mỗi chiều tà và mỉm cười nhìn con cháu đang tiếp nối con đường ông đã đi. Con đường ấy cũng chính là con đường mà cha ông, cha vợ ông đã đi. Hết thảy đều là “Những chàng trai sống một đời đáng sống”. Và vì thế, họ là  NHỮNG NGƯỜI VĨ ĐẠI.

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2024

NGUYỄN MẠNH TƯỜNG - NGƯỜI LẬP KỶ LỤC TRÊN ĐẤT PHÁP

Dương Trung Quốc
No photo description available.


Hiệu trưởng Trường Đại học Paris VII danh tiếng từng nói về Nguyễn Mạnh Tường: “Đã 60 năm qua, trên đất nước Pháp này, chưa có một sinh viên Pháp hay sinh viên quốc tế nào phá được kỷ lục của Giáo sư kính mến: hai bằng Tiến sĩ nhà nước ở tuổi 22”.
Đó là lời chào ấn tượng của vị hiệu trưởng dành cho người cựu học sinh quốc tịch Việt Nam, năm 1989, khi Nguyễn Mạnh Tường có dịp trở lại mảnh đất nơi ông đã thành tài.
1/. Luận văn là một kiệt tác.
Ngày 29.5.1932, nhật báo Le petit Meridional xuất bản ở thành phố Montpellier đăng bài diễn văn của Chủ tịch Hội đồng giám khảo trường Đại học của thành phố, nhận xét về luận án của một nghiên cứu sinh Việt Nam. Vị Chủ tịch phải thốt lên những lời mang tính ngoại lệ: “Luận văn của Ngài quả là một tác phẩm pháp lý, hơn nữa còn là một tác phẩm pháp lý và văn học. Nền tảng của tác phẩm thật là vững vàng và không hề có một lời chỉ trích nào. Cả hình thức cũng thật xán lạn… Công trình nghiên cứu của Ngài thực sự là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh.
Đại học Montpellier rất hân hạnh được chứng kiến Ngài đã thành công huy hoàng trong cả hai khoa khác nhau. Cử nhân Luật khoa vào năm 22 tuổi, Ngài đã sẵn sàng để trở thành Tiến sĩ Văn chương. Điều đó thực sự lập nên một kỷ lục và trên đất Pháp này, người ta chưa từng thấy bao giờ một vị tiến sĩ văn chương 22 tuổi…
Còn đối với tác phẩm pháp lý của Ngài, chúng tôi chỉ có thể nói lên một lời duy nhất thật tốt đẹp và cũng thật đầy đủ rằng luận văn này thật mạnh mẽ, nó là một kiệt tác với đầy đủ ý nghĩa của từ này, nó làm chúng tôi phải suy nghĩ. Tác phẩm này thật xứng đáng với Ngài và nó làm vẻ vang cho tất cả Khoa Luật của trường đại học. Hội đồng giám khảo xin dành cho Ngài số điểm cao nhất và với lời phê: “Xuất sắc với lời khen ngợi của cả Hội đồng”.
Tên gọi của luận văn ấy là “Cá thể trong thành phố An Nam cổ xưa – tiểu luận tổng hợp về Bộ Luật của nhà Lê (thế kỷ XV)”. Và tác giả được Hội đồng trân trọng gọi bằng “Ngài” ấy là chàng trai Việt Nam 22 tuổi Nguyễn Mạnh Tường.
2/. Dư luận cảm phục – Thực dân e ngại.
Nguyễn Mạnh Tường sinh ngày 16.9.1909 tại phố Hàng Đào, vốn gốc ở xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội trong một gia đình rất coi trọng việc học. Ở tuổi 16, Nguyễn Mạnh Tường đã hoàn thành tấm bằng tú tài triết học loại ưu tại một trong những Trường trung học danh giá nhất Đông Dương, mang tên viên Toàn quyền Albert Sarraut. Cũng nhờ học lực xuất sắc mà mới 16 tuổi, cậu học trò Việt Nam ấy đã lên đường sang du học ở Pháp.
Chỉ ba tháng sau khi nhập học vào Trường Đại học Montpellier, ở tuổi 17, Nguyễn Mạnh Tường đã có trong tay Chứng chỉ Văn chương Pháp (Certificat de la Littérature Francaise) trước sự kinh ngạc của các thày trò người Pháp đối với tài học của một chàng trai bản xứ. Năm 19 tuổi, cậu lại đoạt bằng cử nhân văn chương hàng ưu đẳng khiến cho các thày dạy kính nể và tạo điều kiện cho Nguyễn Mạnh Tường lấy luôn mảnh bằng danh giá Tiến sĩ Văn chương Nhà nước Pháp.
Và đến năm 1932, bước qua tuổi 23, Nguyễn Mạnh Tường đã làm nên một kỳ tích như các thầy đã đánh giá: cùng một lúc đạt cả hai bằng Tiến sĩ Nhà nước Pháp trên cả hai bộ môn văn chương và luật học. Sự kiện liên quan đến một trí thức trẻ người thuộc địa gây sự cảm phục của dư luận bao nhiêu thì chính quyền thực dân cũng e ngại bấy nhiêu như lời doạ dẫm của một phần tử thực dân tên là Clémenti Vautel trên tờ “Nhật báo” (Journal): “Người Pháp nên cẩn thận. Để người Việt Nam được học và học giỏi như vậy, liệu về nước họ có chịu ngồi yên không?”.
3/. Một ấn tượng không bao giờ phai.
Quả y như rằng, Nguyễn Mạnh Tường về nước với những thành tích vang dội, dân chúng ngưỡng mộ, giới trí thức đón tiếp ông nồng nhiệt, nhưng học lực của ông vấp phải sự thờ ơ của chính quyền.
Lúc này, trong nước bắt đầu khủng hoảng kinh tế, phong trào cách mạng bị đàn áp đang lắng xuống. Không có ai trọng dụng, Nguyễn Mạnh Tường lại qua châu Âu thực hiện một chuyến đi khảo sát và tiếp tục học hỏi ở nhiều quốc gia như Tây Ban Nha, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Bỉ, Đức, Áo-Hung… Đó cũng là thời kỳ ông sáng tác được nhiều cuốn sách viết bằng Pháp ngữ chất chứa trong đó khát khao hiểu biết và cống hiến của một người trẻ tuổi đang khắc khoải vì đất nước mình còn là thuộc địa của một quốc gia được coi là văn minh mà ông rất ngưỡng mộ.
Sau này, Nguyễn Mạnh Tường từng kể rằng, khi mới 23 tuổi, còn trẻ măng vừa về nước với hào quang danh dự mang từ chính quốc về, ông gặp một người luống tuổi ngang bậc cha chú của mình quỳ xuống vái ông và khẩn cầu ông đừng lấy cái tài của mình làm việc cho Tây. Sự việc đó đã để lại một ấn tượng không bao giờ phai trong ông.
Vì thế, năm 1936, khi ở chính quốc và Việt Nam dấy lên Phong trào Mặt trận Bình dân, Nguyễn Mạnh Tường đã về nước và tham gia giảng dạy tại một trường trung học danh giá nhất dành cho người Việt Nam và sau này cung cấp nhiều nhà cách mạng: Trường Bưởi (mà ngày nay mang tên Chu Văn An).
Ông dạy các bộ môn kinh điển của nền văn hoá phương Tây liên quan đến văn chương và luật pháp. Đồng thời ông cũng mở văn phòng luật sư được nhiều người biết đến ở đường Gambetta (nay là Trần Hưng Đạo), Hà Nội. Nguyễn Mạnh Tường có một số bài giảng tại Đại học Đông Dương như một ngoại lệ dành cho một tri thức thuộc địa.
4/. Góp phần quảng bá Việt Nam kiên cường, trí tuệ.
Cách mạng tháng Tám bùng nổ mở ra cho Nguyễn Mạnh Tường cơ hội cống hiến cho Tổ quốc. Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tham gia Đoàn đại biểu Việt Nam dự Hội nghị Đà Lạt nhằm ngăn chặn âm mưu tái chiếm thuộc địa của thực dân Pháp cùng nhiều trí thức yêu nước khác như Hoàng Xuân Hãn, Vũ Văn Hiền… và cả những nhà hoạt động chính trị theo nhiều khuynh hướng như Nguyễn Tường Tam (trưởng đoàn) và Võ Nguyên Giáp (phó đoàn). Trong bối cảnh ấy, cái mẫu số chung là tinh thần ái quốc đã gắn kết họ lại trong một mục tiêu chung là bảo vệ nền độc lập.
Chiến tranh bùng nổ, Nguyễn Mạnh Tường cũng như số đông trí thức Việt Nam khác chấp nhận cuộc sống và chiến đấu gian khổ ngoài chiến khu.
Với tầm kiến thức rộng lớn, ông tham gia vào các Đoàn Đại biểu của nhà nước kháng chiến dự Hội nghị Bảo vệ Hoà bình ở Bắc Kinh (1952), Đại hội Hoà bình Thế giới ở Vienna (1953), rồi làm trưởng đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Luật gia Dân chủ Thế giới ở Bruxelles. Lập luận và hiểu biết của Nguyễn Mạnh Tường đã góp phần làm cho thế giới biết đến một Việt Nam kháng chiến, kiên cường và trí tuệ…
5/. Những tháng năm sóng gió.
Kháng chiến thành công, vị giáo sư được nhà nước cách mạng phong bước lên bục giảng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Những tưởng cơ hội để Nguyễn Mạnh Tường có thể đóng góp nhiều nhất cho nền giáo dục và học thuật của nước nhà nhưng cuộc đời trớ trêu lại đẩy ông đến một bi kịch lớn.
Vị giáo sư đầy trí tuệ nhưng lại không đủ khả năng vượt qua những thử thách trên con đường phát triển của đất nước giữa lúc vừa lo xây dựng đất nước theo một mô hình chưa rõ ràng, đầy những khúc quanh và cạm bẫy của những sai lầm tả khuynh, lại vừa phải đi tiếp cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước vô cùng gian khổ. Đó là thời kỳ mà những lời nói thẳng luôn bị va đập vào bức tường của những giáo điều.
Nguyễn Mạnh Tường không những không phát huy được những điều ông học hỏi và tích lũy được cho đến độ mà ông đã nhiệt tâm phụng sự mà còn rơi vào những khủng hoảng về tư tưởng và gánh chịu nhiều thử thách mà chỉ có những người trí thức thực tâm yêu nước như ông mới vượt qua nổi.
Chính trong thời gian đầy sóng gió này, ông đã dồn tâm lực vào những công trình như một sự hồi cố về một thời nhớ nhung (nostalgie) rực rỡ hào quang: “Lý luận giáo dục châu Âu từ Erasme đến Rousseau thế kỷ XVI” (NXB KHXH, 1994), “Eschyle và bi kịch cổ đại Hy Lạp” (NXB Giáo dục, 1996), “Virgille, nhà thơ vĩ đại của thời kỳ La Mã cổ đại” (NXB KHXH, 1996).
6/. Một tên tuổi đáng kính trọng nhưng không dễ noi theo.
Năm 1989, Nguyễn Mạnh Tường có dịp trở lại mảnh đất nơi ông đã thành tài. Hiệu trưởng Trường Đại học Paris VII danh tiếng đã chào cựu học sinh của nhà trường bằng một lời văn đầy ấn tượng: “Đã 60 năm qua, trên đất nước Pháp này chưa có một sinh viên Pháp hay một sinh viên quốc tế nào phá được kỷ lục của Giáo sư kính mến: hai bằng Tiến sĩ nhà nước ở tuổi 22” và mời Nguyễn Mạnh Tường nói trọn một ngày cho sinh viên nhà trường về cách học của mình.
Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường đã qua đời, tấm gương trí tuệ cũng là kỷ lục ông đã giành được khi trai trẻ và ngay cả cái bi kịch mà ông đã trải qua ở một thời kỳ đầy thử thách cũng mãi mãi là một bài học sâu sắc về số phận người trí thức trước những thăng trầm của đất nước mà chỉ có lòng yêu nước cùng lòng tự trọng của người có học mới vượt qua nổi, để nguyên vẹn cho đời sau một tên tuổi đáng kính trọng nhưng không dễ noi theo.

(*) Ảnh - Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường (1909 – 1997) là một luật sư, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam. Ông sinh ngày 16.9.1909 và mất ngày 13.6.1997 tại Hà Nội. 

Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2024

MỘT HỌ LỚN KHÔNG THAY ĐỔI

Đoàn Như Tùng Tony



Trong lịch sử nước ta có một dòng họ lớn từ thời Ngô Quyền lập quốc (năm 939) cho đến nay không thay đổi mà càng ngày càng phát triển. Đó là họ Nguyễn Phúc (阮福) ở Gia Miêu ngoại trang, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Theo Thế Phả (bộ Gia phả của họ Nguyễn Phúc) Định Quốc Công Nguyễn Bặc là Thuỷ Tổ của dòng họ Nguyễn Phúc (chữ “Phúc” còn được đọc là “Phước”).
Nguyễn Bặc (924-979) là bạn chí thân từ thuở hàn vi và là cận thần của Đinh Tiên Hoàng (trị vì 968-979). Khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi vua, Nguyễn Bặc được phong Định Quốc Công đứng đầu các công thần.
Năm 979, Đinh Tiên Hoàng bị ám sát, Nguyễn Bặc bắt giết ngay kẻ thích khách Đỗ Thích và tôn phò con của Đinh Tiên Hoàng là Vệ Vương Đinh Tuệ. Lê Hoàn có ý làm phản nhà Đinh, Nguyễn Bặc cầm quân chống đối Lê Hoàn nhưng vì yếu thế nên bị Lê Hoàn bắt giết.
Theo sách Thế Phả, từ thời Nguyễn Bặc cho đến ngày nay, thời nào họ Nguyễn ở Gia Miêu ngoại trang cũng đều có người giữ những điạ vị cao trong các triều đại và thường được phong tước Công.
Đến thế kỷ thứ 16, một thay đổi nhỏ so với lúc ban đầu là họ này lót thêm chữ “Phúc”.
Tương truyền rằng khi sắp sinh, vợ của Nguyễn Hoàng nằm mộng thấy thần nhân cho một tờ giấy viết đầy chữ “Phúc”. Có người đề nghị bà lấy chữ “Phúc” đặt tên cho con, thì bà trả lời rằng: “Nếu đặt tên cho con thì chỉ một người được hưởng phúc, chi bằng lấy chữ “Phúc” đặt làm chữ lót thì mọi người đều được hưởng phúc”. Bà liền đặt tên cho con là Nguyễn Phúc Nguyên (tức chúa Sãi sau này). Từ đó, từ đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên trở về sau đến các vua triều Nguyễn đổi thành họ Nguyễn Phúc.
Ngoài ra, có một ngộ nhận cần được cải chính về thân thế Nguyễn Kim, người mở đầu công cuộc trung hưng nhà Lê và là phụ thân của Nguyễn Hoàng, người đã đẩy mạnh cuộc Nam tiến vào đầu thế kỷ 17.
Sự nhầm lẫn này có thể bắt nguồn từ bộ Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim xuất bản lần đầu năm 1920. Trong sách này, Ông viết: “Thủa ấy có người con của ông Nguyễn Hoằng Dụ tên là Nguyễn Kim…” và Ông chú thích thêm: “Nguyễn Kim là con ông Nguyễn Hoằng Dụ, cháu ông Nguyễn Văn Lang đều là quan nhà Lê cả”.
Từ đó, các nhà chép sử về sau đều theo hướng Nguyễn Kim là con của Nguyễn Hoằng Dụ như Phạm Văn Sơn với bộ Việt Sử Tân Biên (1960), Phan Khoang trong Việt Sử Xứ Đàng Trong (1964) viết về thân thế của Nguyễn Kim rất chi tiết:
“Tiên tổ họ Nguyễn là Nguyễn Công Duẫn làm quan thời Lê Thái Tổ được phong tước là Thái Bảo Hoàng Quốc Công, sinh ra Nguyễn Đức Trung làm quan thời vua Lê Nhân Tông tước Thái Úy Trinh Quốc Công. Nguyễn Đức Trung sinh ra 2 người con: người con gái là vợ của vua Lê Thánh Tông, sau này tức là Trường Lạc Thái Hậu bị cháu nội là Quỷ vương Lê Uy Mục đầu độc; người con trai là Thái Úy Nghĩa Huân Vương Nguyễn Văn Lang, người giết Lê Uy Mục và tôn vua Lê Tương Dực. Nguyễn Văn Lang sinh ra An Hoà Hầu Nguyễn Hoằng Dụ, một tướng lãnh nổi tiếng trước khi Mạc Đăng Dung đảo chánh lật đổ nhà Lê. Nguyễn Hoằng Dụ sinh ra An Thành Hầu Nguyễn Kim.”
Theo bộ Việt Sử Thông Giám Cương Mục do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn soạn dưới thời Tự Đức năm 1881, khi viết về Nguyễn Hoằng Dụ và Nguyễn Kim không thấy một chi tiết nào về sự liên hệ nào giữa 2 người .
Trong khi đó, Thế Phả do Hội Đồng Nguyễn Phước Tộc soạn, cho biết Nguyễn Kim là con đầu của Trừng Quốc Công Nguyễn Văn Lựu. Nguyễn Văn Lựu là con của Nguyễn Như Trác. Cha con Nguyễn Như Trác-Nguyễn Văn Lựu không nổi tiếng bằng cha con Nguyễn Văn Lang-Nguyễn Hoằng Dụ nhưng vì tôn trọng sự thật trong gia đình Nguyễn Phúc, các tác giả bộ Thế Phả đã không “thấy họ sang bắt quàng làm họ”.
Thời điểm cực thịnh của họ Nguyễn Phúc là việc Nguyễn Phúc Ánh thống nhất đất nước vào năm 1802 tức vua Gia Long (1802-1819) đóng đô tại Phú Xuân, cai trị một đất nước rộng lớn nhất so với các triều đại trước từ Lạng Sơn đến Cà Mau.
(Từ đầu thập niên 1960, Sử gia Nguyễn Phương đã đăng những bài nghiên cứu về nhà Tây Sơn trên các báo Bách Khoa ở SG và Đại Học Huế. Tuy đã hết lời ca tụng những chiến công hiển hách của nhà Tây Sơn nhưng Nguyễn Phương cho rằng cuối cùng Nguyễn Ánh mới là người đã thực sự thống nhất đất nước. Những bài nghiên cứu này đã bị một số sử gia phản bác, thậm chí bôi xấu cá nhân ông do bất đồng quan điểm? Cuối cùng vẫn không bác bỏ được những luận cứ của ông:
“Nếu quan niệm một quốc gia thống nhất là một nước có một lãnh thổ, một dân tộc và một chính quyền thống nhất thì thành thật mà nói Nguyễn Nhạc hay Nguyễn Huệ đều chưa làm được việc này vì trong thời gian họ nắm quyền, đất nước vẫn còn bị phân ly thành nhiều khu vực của nhiều thế lực chính trị khác nhau. Chỉ có Nguyễn Ánh (Đức Thế Tổ Hoàng Đế) là người đã thống nhất đất nước dưới một chính quyền duy nhất, trong một lãnh thổ duy nhất từ Lạng Sơn tới Cà Mau.”
- Sử gia Linh Mục Nguyễn Phương (1921-1993) một thời đã dạy ĐHVK Huế. Sau 1975, định cư tại Virginia USA (mất năm 1993) đã viết:
Thời vua Minh Mạng (1820-1840) đã hệ thống hóa lại dòng tộc.
Vua xếp hậu duệ thuộc 9 đời chúa vào Tiền Hệ (tức là Hệ của những người mang họ Tôn Thất) và xếp con cháu vua Gia Long vào Chánh Hệ. Trong Chánh Hệ phân ra:
- Đế Hệ là con cháu vua Minh Mạng
- Phiên Hệ là dòng anh em của vua Minh Mạng
Vua Gia Long có 13 Hoàng tử. Ba người đầu mất sớm là Hoàng tử Cảnh, Hoàng tử Hy và Hoàng tử Tuấn (Hoàng tử Cảnh dù mất sớm nhưng đã lập gia đình có con).
Hoàng tử thứ tư là Nguyễn Phúc Đảm được nối ngôi tức vua Minh Mạng.
Năm 1822 vua Minh Mạng làm ra một bài Đế Hệ Thi (gồm 20 chữ) và 10 bài Phiên Hệ Thi (20 chữ mỗi bài) làm chữ lót để phân định thứ bậc các hệ phái từ con cháu Minh Mạng trở xuống.
Đế Hệ thi :
Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh
Bảo Quý Định Long Trường
Hiền Năng Kham Kế Thuật
Thế Thoại Quốc Gia Xương
Cứ sử dụng theo thứ tự như thế cho đến chữ lót cuối cùng là “Xương” thì trở lại từ đầu “Miên”.
Từ 1802 đến 1945 gần 150 năm mà mới chỉ đến chữ lót thứ 5 là Vĩnh? Tham vọng của vua Minh Mạng cho con cháu trị vì đất nước rất là lớn?
Năm 1945, vua Bảo Đại thoái vị tại Huế, chấm dứt chế độ quân chủ tại nước ta nhưng họ Nhuyễn Phúc vẫn cứ phát triển vững vàng, càng ngày càng hưng thịnh và có nhiều nhân vật nổi tiếng trong khắp các lãnh vực chính trị, quân sự, văn hóa, học thuật, kinh tế, khoa hoc…chẳng những ở trong nước mà cả trên thế giới.

******
Tổng hợp từ các nguồn:
- Bài viết này theo dàn ý của Gs Trần Gia Phụng trong sách Những câu chuyện Việt Sử -Tập 2
- Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim
- Tự Điển Nhà Nguyễn – Gs Võ Hương An
- Việt Sử Tân Biên – Phạm Văn Sơn
- Việt Sử Xứ Đàng Trong – Phan Khoang.

Ảnh trên trang thông tin Nguyễn Phúc Tộc Việt Nam 

Thứ Ba, 28 tháng 3, 2023

NHÀ CÁCH MẠNG PHAN CHÂU TRINH NHƯ TÔI ĐÃ HIỂU

NHÀ CÁCH MẠNG PHAN CHÂU TRINH NHƯ TÔI ĐÃ HIỂU

(Nhân ngày giỗ thứ 97 cụ Phan Châu Trinh 24/3/2023)

Hà Sĩ Phu

Ngày 21/3/2006 báo Nhân dân đã đăng một bài của nhà văn Nguyên Ngọc, tán thành ý kiến của 2 người đồng chí thân thiết nhất của Phan Châu Trinh (PCT) là Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp rằng “PHAN CHÂU TRINH là NHÀ CÁCH MẠNG ĐẦU TIÊN của VN” chứ không chỉ là nhà giáo dục, nhà văn hóa, nhà yêu nước hay chiến sĩ giải phóng dân tộc… như nhiều người quan niệm [1].

Nhà văn Nguyên Ngọc giải thích 2 chữ “Cách mạng” của PCT ở chỗ “không chỉ dừng lại ở vấn đề độc lập dân tộc”, “ông chủ trương một cuộc cách mạng xã hội chứ không chỉ là một cuộc chiến đấu chống ngoại xâm”, “ông chủ trương đưa dân tộc lên tầm cao mới để hội nhập cùng thế giới mới, phát triển trong thế giới mới đó”, “nhà cách mạng là người chủ trương và thực hiện một cuộc thay đổi tận gốc xã hội, chuyển từ một xã hội này sang một xã hội khác, khác tận gốc, về cơ bản”.

Cảm ơn 2 chữ “CÁCH MẠNG” rất chính xác về PCT nhưng nếu chỉ mô tả tư tưởng của PCT sơ lược như vậy e có thể bị hiểu cũng tương tự như con đường của “nhà cách mạng" Hồ chí Minh (HCM) chăng?

Thực ra nhà Cách Mạng PCT khác hẳn với nhà cách mạng HCM ở 2 điểm mấu chốt cực kỳ quan trọng:

1/ Về CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC:

Muốn cứu nước phải hiểu nguyên nhân tại sao nước mình lại hèn yếu để chịu phận nô lệ trước ngoại bang? Vì chênh nhau một tầm văn minh! Nếu không nâng được tầm văn minh mà muốn đánh thắng kẻ mạnh hơn mình gấp bội thì phải nhờ cậy sức mạnh của nước khác, thì rốt cuộc kẻ đã giúp mình sẽ lại ngồi lên đầu mình, “nhân dân vẫn cứ là cái lưng con ngựa chỉ thay người cưỡi mà thôi”.

Vì “mẫu quốc” là nước ở tầm văn minh cao hơn nên có những mặt tốt, có những nhân vật và tổ chức dân chủ, hiện đại, có thể giúp ích cho một dân tộc thuộc địa.

Muốn nâng tầm văn minh thì tốt nhất là khai thác mặt tốt, mặt dân chủ-hiện đại của “Mẫu quốc” để nâng dần trình độ của mình và đấu tranh để cải biến dần mặt xấu của nó. Chế độ Thực dân chỉ là một giai đoạn nhất thời của lịch sử, nó sẽ tự mất đi khi nhân loại dần được “toàn cầu hóa” để thu nhỏ dần khoảng cách về tầm văn minh giữa các dân tộc.

Vậy muốn giành độc lập không được nhờ sức mạnh của nước khác, không cần bạo động tức thì và giành độc lập chỉ là công đoạn sau cùng. Điều này hoàn toàn đối lập với con đường CS của HCM và con đường của nhà ái quốc Phan Bội Châu (Nhưng PCT luôn tìm sự ủng hộ lẫn nhau với HCM và PBC).

2/ VỀ DÂN CHỦ HÓA XÃ HỘI:

Trong mục đích xây dựng xã hội mới thì PCT có cái nhìn toàn cục, kết hợp cả Đông và Tây, cả văn hóa-giáo dục với chính trị-kinh tế nhưng đã phát hiện nhu cầu cốt lõi nhất là nhu cầu DÂN CHỦ.

Trong khi còn tạm thời chấp nhận sự thống trị của Pháp thì PCT đã kiên quyết chống chế độ Quân chủ Phong kiến của nhà Nguyễn mà Pháp còn lợi dụng để nô dịch dân Việt.

Vào đầu thế kỷ 20, trong quá trình cư trú tại Pháp, tư tưởng Phan Châu Trinh đã chuyển biến từ CHỦ NGHĨA DÂN TỘC thành CHỦ NGHĨA DÂN TỘC-DÂN CHỦ (nationalisme démocratique).

Trong bài nói chuyện tại Sài-gòn cuối năm 1925 với chủ đề “QUÂN TRỊ chủ nghĩa và DÂN TRỊ chủ nghĩa”, ông phân tích về Viện Dân biểu (Chambre des députés) tức Hạ nghị viện của nước Pháp như sau:

“Bởi vì trong hạ-nghị-viện thế nào cũng có hai đảng: một đảng tả, một đảng hữu; nếu cái đảng tả chiếm số nhiều mà cầm quyền trong nước thì đảng hữu nó xem xét chỉ trích, cho nên có muốn làm bậy cũng khó lắm” (Tây-Hồ Phan-Châu-Trinh, Bài diễn thuyết Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa, Chân Phương ấn quán, Hà Nội 1926).

Do nhận thức “DÂN CHỦ = HỢP TÁC TẢ-HỮU”, trong thực tế Phan Châu Trinh đã tìm cách tạo ra một liên minh tả-hữu giữa những người Việt yêu nước.

Điều đáng tiếc là sau khi PCT qua đời, trước sự công phá của phe cực hữu (thực dân) lẫn phe cực tả (cộng sản), liên minh này đã bị phá vỡ. Đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu và việc thiết lập chế độ toàn trị cộng sản tại Việt Nam.

Theo PCT, 2 phe đối lập Tả-Hữu không phải chỉ chấp nhận nhau mà rất cần có nhau, kẻ đối lập chính là ân nhân giúp mình ngày càng hoàn thiện. Trước đây cả thế kỷ, PCT chẳng những đã thấy nhu cầu cấp thiết phải Dân chủ hóa xã hội mà còn có quan niệm “rất cần có đối lập” để tự hoàn thiện mình thì chủ nghĩa CS đến mãn đời cũng không thể có được.

KẾT LUẬN:

Phan Châu Trinh chính là nhà tư tưởng kiệt xuất về cả con đường cứu nước và Văn minh hóa xã hội. Ba khẩu hiệu nổi tiếng “KHAI DÂN TRÍ, CHẤN DÂN KHÍ, HẬU DÂN SINH” chỉ là ba công việc cụ thể để thực hiện hai lý tưởng rất lớn kia mà thôi.

Nói về Cách mạng thì như thế mới đáng là CÁCH MẠNG TIỀN PHONG, chẳng những vượt trước thế kỷ mình đang sống mà vượt trước cả nhiều thế kỷ về sau. Nhưng nhà Cách mạng kiệt xuất và thánh thiện ấy chưa thể thành công trước một trào lưu còn rất thiển cận và thực dụng như xã hội VN lúc bấy giờ! (Nên bây giờ, phải đối mặt với một thực tiễn độc quyền, mất gốc, lai căng, hỗn loạn và phụ thuộc Tàu rất khó gỡ ra!).

Nếu VN biết theo PCT?… Ôi! Ước mơ…! Nhưng Lịch sử chẳng bao giờ có chữ… NẾU ấy! Chân lý không phải bao giờ cũng đồng nghĩa với thành công! Vấn đề là phải biết bài học của quá khứ để nhìn ra con đường và cách ứng xử xán lạn nhất cho ngày hôm nay!

24/3/2023

H.S.P.

[1] https://nhandan.vn/phan-chau-trinh-nha-cach-mang-dau-tien-cua-viet-nam-post476714.html