BÃO LŨ
Nhạc và lời: Thủy Lâm Synh
Tiếng hát: Ca sĩ Hà Lan Phương
Hòa âm: Nhạc sĩ Nguyễn Duy
Karaoké: Phan Tấn Uyên
BÃO LŨ
Nhạc và lời: Thủy Lâm Synh
Tiếng hát: Ca sĩ Hà Lan Phương
Hòa âm: Nhạc sĩ Nguyễn Duy
Karaoké: Phan Tấn Uyên
TIỀN VÀ ĐẠO ĐỨC
NHỮNG CHỮ THƯỜNG HAY BỊ VIẾT SAI CHÍNH TẢ
Phan Lục
* Bàng quan và bàng quang
Bàng quan nghĩa là làm ngơ, đứng ngoài cuộc, xem như không dính líu gì đến mình. Bàng
quang nghĩa là cái bọng đái.
* Biếng
nhác và hèn nhát
Người
miền
Nam phát âm hai tiếng nhác và nhát như
nhau nhưng về
chính tả
thì phải
phân biệt:
nhác dùng cho biếng nhác, lười
nhác, nhác trông, nhác thấy, nháo nhác, nhớn
nhác và nhát dùng cho hèn nhát,
nhát gan, nhát dao, nói nhát gừng.
* Bóc và bốc
Bóc lột nghĩa là chiếm đoạt thành quả
lao động của người khác (ví dụ: địa chủ bóc lột sức lao động của nông nô thời
phong kiến), còn viết bốc lột là sai chính tả.
* Chia sẻ khác với chia xẻ
Chia sẻ nghĩa là cùng chung chịu khổ
đau hoặc cùng chung hưởng sung sướng (chia sẻ vui buồn). Còn chia xẻ
nghĩa là cắt thành nhiều mảnh, làm cho không còn nguyên vẹn (chia xẻ lực lượng),
khác với chia rẽ (dấu ngã) nghĩa là gây mâu thuẫn, mất đoàn kết.
* Chiều hay chìu?
Chiều (viết có ê) trong
mọi trường hợp: chiều chuộng, chiều ý, chiều hướng, ngược chiều, buổi chiều...
Viết chìu là vô nghĩa vì không có chữ này trong tự điển tiếng Việt.
*Chửi hay chưởi?
Chửi là chửi rủa hay chửi mắng. Còn
chữ chưởi không có trong từ điển tiếng Việt.
* Cúi và cuối
Cúi có nhiều nghĩa: 1. Hạ thấp đầu
hoặc thân mình xuống hướng về phía dưới (cúi đầu, cúi khom lưng) 2. Con cúi
(nói tắt) tức là dải bông cuốn lại thành sợi hoặc cuộn rơm để giữ mồi lửa. Còn cuối
(có chữ ô) nghĩa là sau cùng.
* Dòng không phải giòng
Dòng có nghĩa là kế tiếp không dứt
đoạn như dòng sông, dòng nước, dòng điện, dòng thơ, dòng họ, dòng dõi, dòng
giống v.v... chứ không có chữ giòng trong tự điển tiếng Việt.
* Dở và giở
Dở có nhiều nghĩa: 1. Không hay (dở
ẹc) 2. Chưa xong, chưa hoàn thành (dở dang) 3. Không dứt khoát (dở dở ươn ươn,
dở khôn dở dại, dở ông dở thằng…). Còn giở có nghĩa là: 1. Mở ra cái
đang gấp xếp hoặc bao gói (giở sách, giở gói hàng…) 2. Dùng đến biện pháp không
hay để đối phó ( giở trò lừa bịp, giở giọng, giở mặt, giở quẻ…)
* Gác không phải gát
Gác có nhiều nghĩa: 1. Canh gác 2.
Tạm để sang một bên, không nghĩ đến (chuyện đời gác bỏ một bên) 3.Tầng nhà trừ
tầng trệt (lầu son gác tía) 4. Đặt ngang lên trên (gác chân) 5. Vật gồm nhiều
thanh tre hoặc gỗ xếp khít nhau treo lên cao để xếp đồ vật trong nhà (gác bếp).
Chữ gát tuyệt nhiên không có trong tự điển tiếng Việt.
* Giành hay dành?
Giành là giành giựt, tranh giành.
Còn dành là dành dụm, để dành.
* Giẫm hay dẫm?
Giẫm có nghĩa là đặt bàn chân mạnh lên. Không có chữ dẫm trong tự điển tiếng Việt.
* Giấu giếm
hay dấu diếm?
Có hai từ dấu.
Một có nghĩa là yêu (ví dụ: yêu
dấu). Từ kia có nghĩa là vết (ví dụ: dấu vết).
Giấu và giấu giếm đều có nghĩa là cất kín, giữ kín, không cho ai biết (Bonet, 1999:223 ; Huình Tịnh Của Paulus, 1896a:375, Hội Khai Trí
Tiến Đức, 1931:219).
Dấu và
dấu diếm là cái dấu, đồ để làm dấu (Huình Tịnh Của Paulus, 1896a: 233)
Hiện nay có nhiều người viết
dấu kín, dấu nhẹm, che dấu… là sai
chính tả.
* Giùm hay dùm?
Từ điển xưa nay chỉ có giùm, không có dùm
nhưng hiện nay trên Internet, số trang viết
sai chữ
này đã
nhiều gấp đôi số trang viết đúng.
* Góa không phải giá
Góa hay ở góa là
tình trạng của người mất vợ hoặc mất chồng. Giá nghĩa là gả con gái đi lấy
chồng (giá thú, xuất giá, tái giá). Dân gian thường gọi người mất vợ hoặc mất
chồng là ở giá hoặc bà giá thì hoàn toàn không đúng.
* Góc và gốc
Góc là một phần mặt phẳng giới hạn
bởi 2 nửa đường thẳng (góc nhọn, góc bẹt, góc độ, góc học tập, góc biển chân trời...).
Gốc là phần dưới cùng của thân cây hoặc là nền tảng, cơ sở (gốc cây, gốc
rễ, gốc gác...). Có nhiều người đã nhầm lẫn 2 chữ này cũng như giữa chữ o và
ô ở các trường hợp khác như: khăn đóng chứ không phải khăn đống,
chóng mặt chứ không phải chống mặt,
* Ín không phải ính
Người miền Nam thường viết theo giọng nói nên mới
sai chính tả như chín viết thành chính (chín chắn), tín viết
thành tính (uy tín), kín viết thành kính (kín đáo) v.v...
hoặc ngược lại chính xác viết thành chín xác (9 xác)...
* Lát hay lác?
Lát (tận cùng bằng t) có nhiều
nghĩa: 1. Miếng mỏng xắt từ nguyên chiếc (lát gừng, lát thịt...) 2. Một thời gian
ngắn (đợi một lát) 3. Đặt và gắn gạch hay ván gỗ thành một mặt phẳng (đường lát
gạch, nền nhà lát gỗ...). Lác cũng có nhiều nghĩa: 1. Hắc lào 2. Lé (con
ngươi của mắt lệch về một bên) 3.Cây cói (chiếu lác) 4. Dùng trong lác đác
nghĩa là thưa thớt, mỗi nơi một ít hoặc thỉnh thoảng mới thấy.
* Láu cá không phải láo cá
Láu cá nghĩa là ranh ma chứ không có
tiếng láo cá. Nhiều người miền Nam thường nhầm lẫn viết au thành ao
hoặc ngược lại.
* Lễ lạt hay lễ lạc?
Lễ lạt (tận cùng bằng chữ t)
nghĩa là các cuộc lễ hoặc các thứ lễ vật. Nhiều người viết lễ lạc vì tưởng
lễ phải đi với lạc nghĩa là vui (lạc thú) là sai chính tả.
* Lụt không phải lục
Người miền Nam viết theo giọng nói nên viết sai lục
lội hoặc con dao bị lục thay vì lụt lội hoặc con dao bị lụt.
* Lượt và lược
Lượt nghĩa là lần và dùng
trong lần lượt, lượt là, lượt mượt lượt thượt. Còn lược dùng trong nghĩa
lọc lấy tinh chất (lược cà phê), cái lược chải tóc, giản lược, sơ lược, lược
thuật, lược khảo, sử lược, sách lược, chiến lược...
* May mắn không phải mai mắn
May mắn (tận cùng bằng chữ y) nhưng người miền Nam thường hay viết nhầm là mai mắn.
* Nửa và nữa khác
nhau thế nào?
Người miền Nam thường gặp nhiều khó khăn khi phải phân biệt hỏi ngã. Cách giải quyết căn bản là dựa vào
nghĩa của từ để nhớ mặt chữ: nửa, nghĩa là 1/2,
luôn luôn viết với dấu hỏi, còn nữa nghĩa là thêm, hơn, tiếp tục thì viết với dấu ngã. Có thể đặt ra mẹo để nhớ: gặp phân nửa thì đừng viết ngã nữa.
* Quàn và quàng
Quàn nghĩa là đặt tạm linh cửu ở một
nơi trước khi làm lễ mai táng (nhà quàn). Còn quàng có nhiều nghĩa: 1.
Ôm hoặc vòng tay qua cổ hay vai người khác 2. Mang vật mỏng vào người (quàng
khăn, quàng áo mưa...) 3. Vướng mắc khi đang đi (Đi đâu mà vội mà vàng, mà vấp
phải đá mà quàng phải dây) 4. Bất chấp đúng sai, phải trái (nói quàng nói
xiên).
* Sá hay xá?
Sá dùng cho đường sá, sá chi, sá kể,
sá quản. Còn xá dùng cho ân xá, xá tội, bệnh xá, ký túc xá, xá xị, xá
xíu, xá ba xá (= lạy).
* Sáp nhập không phải sát nhập
Sáp nhập nghĩa là nhập nhiều tổ chức vào
làm một. Viết sát nhập là sai chính tả.
*Se hay xe?
Se nghĩa là khô bớt nước trên bề mặt,
cũng dùng khi nói về khí trời hơi lạnh (se se lạnh) hoặc se sua (chưng diện làm
dáng). Còn xe nghĩa là xoắn kết nhiều sợi nhỏ lại thành một như xe tơ,
xe chỉ, xe cói...
* Suôn sẻ hay suông
sẻ?
Suôn nghĩa
là thẳng liền một đường (Nguyễn Kim Thản 2005:1421). Nói suôn là nói trôi chảy, không vấp váp, khác với nói suông là nói
mà không làm. Người Bắc phân biệt hai từ suôn và
suông rất dễ dàng. Người Nam phát âm hai từ như một và khi không biết mình
muốn nói gì thì viết tuốt là suông mặc dù
từ điển chỉ có suôn sẻ chứ
không
có suông sẻ.
* Sử dụng hay xử dụng?
Từ dùng đúng là sử dụng nhưng người miền Bắc thường lẫn lộn giữa s và x nên viết là xử dụng.
*Tắc và tắt
Tắc
dược
dùng trong ách tắc, bế tắc, tắc tị, tắc cống, tắc trách, nguyên tắc, phép tắc,
quy tắc, xã tắc, tắc họng, tắc lưỡi,… nhưng tắt dùng trong tắt lửa, tắt đèn, tắt hơi, tắt mắt, viết tắt…
* Tụt và tuột
Tụt
có
nhiều nghĩa: 1. Lùi lại phía sau (tụt hậu, tụt dép, tụt quần, tụt lại sau hàng
quân, tụt dốc… …) 2. Giảm về số lượng, mức độ (nhiệt độ tụt xuống) 3. Bám vào vật
gì rồi tự buông mình xuống dần dần (tụt từ trên cây xuống). Còn tuột cũng có nhiều nghĩa: 1. Bị rời ra
khỏi, không giữ lại được (tuột tay làm rơi bễ cai chén) 2. Rời khỏi một cách
mau lẹ và dứt khoát (rơi tuột xuống hang).
* Tr
và Ch
Người miền Bắc lẫn người miền Nam vẫn có
người viết sai giữa 2 vần nầy, ví như trọn
tình (mối tình trọn vẹn) khác với chọn
tình (chọn lựa mối tình) hoặc cạnh
tranh chứ không phải cạnh chanh v.v…
* Uơn và ươn
Huờn (u-ơ-n) đọc
là hu-ờn có 2 nghĩa: hoàn = trả lại
và hoàn = viên tròn (thuốc đông
y), nếu viết lộn hườn (ư-ơ-n) thì đọc như ‘hường’.
Huỡn (u-ơ-n) đọc là hu-ỡn có 2 nghĩa: 1. Hoãn = chưa làm ngay (hoãn cuộc họp) 2. Rảnh rỗi, nếu viết hưỡn (ư-ơ-n) thì đọc như ‘hưỡng’.
* Xán lạn và sáng lạn
Xán lạn nghĩa là sáng sủa, rực rỡ
(tương lai xán lạn), viết sáng lạng là sai chính tả. Có chữ gần giống là sáng
láng có nghĩa là rất sáng (đôi mắt sáng láng), thông minh (đầu óc sáng
láng).
* Xăm và xâm
Xăm có nhiều nghĩa: 1. Dùng mũi nhọn
xiên vào thứ gì (xăm gừng, xăm mứt) 2. Dùng kim châm vào người thành một hình vẽ
rồi bôi thuốc lên (xăm mình, xăm tay) 3. Quẻ thẻ dùng dể xin thần thánh ứng cho
biết tương lai (đi xin xăm ở Lăng Ông). Còn xâm cũng có nhiều nghĩa: 1.
Lấn sang phạm vi khác (xâm lấn, xâm lăng, xâm canh...) 2. Ở trạng thái bị
chóng mặt ( bị xâm vì say nắng).
* Xoay xở không phải xoay sở
Xoay xở nghĩa là làm mọi cách để giải
quyết được khó khăn. Viết xoay sở là viết sai chính tả. Nhiều người, nhất
là người miền Bắc, thường hay nhầm lẫn giữa chữ x và chữ s.
*
Xui, xuôi và sui
Xui có nhiều nghĩa: 1. Xui xẻo 2. Xui khiến (trời xui đất khiến) 3. Dùng trong xui bẩy, xui dại, xui giục (xui bẩy, xúi dại, xúi giục). Còn xuôi có nghĩa là: 1. Trái với ngược (xuôi dòng nước) 2. Suôn sẻ, thuận lợi (việc gì cũng xuôi cả). Và sui tức là sui gia có nghĩa là gia đình của dâu hoặc rể mình. Có nhiều người nói và viết nhầm là xui gia, anh xui, chị xui… (vậy là gia đình này xui xẻo rồi!).
BÍ QUYẾT DƯỠNG SINH
Sưu tầm
Tôn Tư Mạc, tương truyền ông sinh năm 541, mất năm 682, thọ đến 141 tuổi mới qua đời. Ông được người đời tôn xưng là Dược Vương và Tôn Thiên Y, là một thầy thuốc nổi danh thời cổ đại của Trung Hoa và nghiên cứu sâu rộng về đạo dưỡng sinh.Dưỡng sinh trường thọ phải thuận theo tự nhiên, bảo trì sự cân bằng mới đạt được hiệu quả.
Từ khi 7 tuổi, danh y Tôn Tư Mạc đã thông thạo những cuốn sách vỡ lòng, đọc thuộc văn chương hơn ngàn chữ, được gọi là “Thánh đồng”. Tới năm 20 tuổi, ông đã có thể đĩnh đạc luận bàn về học thuyết lớn của Trang Tử, Lão Tử.
Cả đời Tôn Tư Mạc biên soạn hơn 80 bộ sách, trong đó, các kinh nghiệm bắt mạch chữa bệnh và các lý thuyết y học được ông tổng kết và biên soạn thành 2 bộ sách lớn về y học, gọi là “Thiên Kim Yếu Phương” (Phương thuốc cần thiết đáng giá ngàn lượng vàng), và “Thiên Kim Dực Phương” (Phương thuốc bổ túc đáng giá ngàn lượng vàng). Đây là hai báu vật ngàn vàng của Trung Y. Rất nhiều nội dung trong đó vẫn có tác dụng chỉ đạo, có giá trị học thuật cực kỳ cao tới ngày nay.
Tôn Tư Mạc tôn sùng đạo dưỡng sinh. Ông cho rằng, nếu người bệnh khéo chăm sóc và giữ gìn sức khỏe thì sẽ có thể vô bệnh. Chỉ cần “Lương y trị bệnh với các phương thuốc và châm cứu”, thì “Thân thể có thể hết bệnh, trời đất có thể tiêu tai ương”.
Vị Thần y này dày công nghiên cứu và kết hợp tư tưởng dưỡng sinh của Nho gia, Đạo gia, Phật gia vào Trung y. Từ đó, các phương pháp dưỡng sinh thiết thực mà hiệu quả được ông kết tinh, tự mình thể nghiệm. Tương truyền rằng, đó chính là nguyên do khiến ông sống hơn trăm tuổi mà tai nghe mắt thấy tinh tường.
Ví dụ như sinh hoạt thường ngày cần phải ổn định, không nên trái với quy luật tự nhiên, không nên lười biếng lười vận động, khí huyết cần phải chú ý lưu thông, ăn uống cần phải điều độ, không nên cứ một mực theo đuổi danh lợi, tâm tính cần phải bảo trì sự cân bằng,…
Sau đây là 13 bí quyết dưỡng sinh đơn giản giúp cường thân kiện thể, nâng cao tuổi thọ, sức khỏe dẻo dai hơn nếu được áp dụng thường xuyên. Chỉ cần thực hiện trong 10 - 15 phút mỗi ngày, chúng ta có thể thay đổi cơ thể bản thân.
1. Thường xuyên lắc đầu
Chống hai tay lên hông, nhắm mắt, cúi đầu và từ từ quay đầu sang phải, rồi từ từ trở lại vị trí cũ. Thực hiện tổng cộng 6 lần rồi lặp lại theo chiều ngược lại. Thực hiện động tác này thường xuyên có thể giúp đầu óc bạn linh hoạt. Lưu ý thực hiện động tác từ từ, nếu không bạn sẽ cảm thấy chóng mặt.
2. Thường xuyên vuốt đầu
Xoa hai lòng bàn tay vào nhau đến khi ấm lên, sau đó bắt đầu vuốt từ trán, đi dần lên trên đầu, vòng xuống gáy rồi quay về cổ. Mỗi sáng tối nên thực hiện 10 lần.
Phần đầu có nhiều huyệt đạo quan trọng, thường xuyên làm động tác dưỡng sinh đơn giản này có thể ngăn ngừa chứng đau đầu, ù tai, bạc tóc và rụng tóc.
3. Thường xuyên đảo mắt
Nhắm mắt lại, sau đó mở ra thật mạnh, đảo tròng mắt theo hình tròn ngược chiều kim đồng hồ, lần lượt sang phải, lên trên, sang trái, đi xuống và tiếp tục lặp lại liên tục 3 vòng như vậy, rồi lặp lại theo chiều kim đồng hồ 3 vòng.
Động tác này giúp bảo vệ sức khỏe đôi mắt và rất tốt cho người đang bị tật cận thị.
4. Thường xuyên mát-xa tai
Dùng lòng bàn tay che hai lỗ tai, từ từ ấn vào trong, khi buông ra nên nghe thấy tiếp “phập”. Lặp lại 10 lần.
Dùng lòng bàn tay ấn vào tai, lấy ngón trỏ day day huyệt Phong trì ở sau đầu khoảng 10 lần.
Thực hiện hai động tác dưỡng sinh này trước và sau khi đi ngủ mỗi ngày để tăng cường trí nhớ và thính giác.
5. Thường xuyên gõ răng
Miệng hơi khép hờ, gõ nhẹ hai hàm răng trên và dưới vào nhau sao cho phát ra âm thanh. Gõ răng chia ra khá phức tạp, như nửa hàm bên trái gõ vào nhau thì gọi là “minh thiên chung”, nửa hàm bên phải gõ vào nhau gọi là “kích thiên minh”… nhưng thông thường chỉ cần hai hàm răng va vào nhau là được.
Thực hiện 36 lần. Động tác này có thể thông kinh mạch xung quanh vùng hàm, giữ cho tinh thần minh mẫn, tăng cường khả năng hấp thụ của đường tiêu hóa, ngăn ngừa sâu răng và thoái hóa khớp hàm.
6. Thường xuyên cuốn lưỡi
Làm động tác cuốn đầu lưỡi lên rồi đưa sâu vào trong cổ họng. Người mới tập thì cuốn lưỡi chống lên vòm họng, từ từ tập đưa vào trong, có tác dụng kích thích thành cổ họng, khoang miệng, thúc đẩy khí huyết vận hành cục bộ. Cuốn lưỡi sẽ kích thích làm cho nước bọt trong khoang miệng phân tiết ra nhiều, khi đã đầy miệng thì từ từ nuốt xuống, thường là chia làm 3 lần, yêu cầu nuốt xuống phải có tiếng “ực”.
Y học hiện đại cho thấy, trong nước bọt có rất nhiều loại enzyme, vừa giúp hỗ trợ tiêu hóa lại vừa phân giải độc tố, tiêu diệt tế bào ung thư. Vì vậy Đạo giáo cho rằng nuốt nước bọt có thể tẩy trừ độc khí, uế khí trong nội tạng là có cơ sở.
7. Thường xuyên rửa mặt
Xoa lòng bàn tay 36 lần cho ấm lên, sau đó vuốt mặt như thực hiện rửa mặt bình thường. Làm động tác này này thường xuyên có thể giúp làn da hồng hào và sáng bóng mà không có nếp nhăn.
8. Thường xuyên xoay người
Khi vặn người sang trái thì tay phải ở trước bụng, tay trái ở sau lưng. Tay phải ở trước vỗ nhẹ vào bụng dưới, tay trái ở sau vỗ nhẹ vào huyệt Mệnh môn nằm trên cột sống lưng. Sau đó vặn người theo chiều ngược ngại.
Thực hiện ít nhất 50 lần, nhưng 100 lần sẽ tốt hơn. Vận động tay chân nhịp nhàng cùng cơ thể theo cách này sẽ giúp ruột và dạ dày khỏe hơn, tăng cường khí thận, ngăn ngừa chứng khó tiêu, đau dạ dày và đau thắt lưng.
9. Thường xuyên xoa bụng
Xoa tay 36 lần cho ấm lên, sau khi làm nóng tay thì bắt chéo tay, đặt lên bụng và xoa theo chiều kim đồng hồ quanh rốn với phạm vi to dần. Thực hiện 36 lần. Động tác dưỡng sinh này giúp tăng cường quá trình tiêu hóa, hấp thụ và giảm nguy cơ bị chướng bụng.
10. Thường xuyên luyện khí thân dưới
Khi hít vào, thắt chặt các cơ xung quanh vùng hậu môn. Giữ hơi thở của bạn trong vài giây cho đến khi bạn không thể chịu đựng được, sau đó thở ra và thư giãn. Bạn có thể thực hành bất cứ lúc nào. Tốt nhất nên thực hiện 20 - 30 lần vào mỗi buổi sáng và tối. Tương truyền, động tác này là bài tập đáng tự hào nhất của Vua Càn Long để giữ gìn sức khỏe .
11. Thường xuyên xoay đầu gối
Đặt hai bàn chân song song, đầu gối sát vào nhau, người hơi ngồi xổm, dùng hai tay ấn lên đầu gối, lần lượt xoay sang trái và phải. Thực hiện 20 lần. Bài tập này có thể tăng cường sự dẻo dai cho các khớp gối. Muốn dưỡng sinh và kéo dài tuổi thọ, hãy bắt đầu từ đôi chân.
12. Thường xuyên xoa chân
Xoa bàn chân trái bằng tay phải và bàn chân phải bằng tay trái. Xoa từ gót chân lên đến ngón chân, sau đó xoa từ gót chân trở xuống, tổng cộng lặp lại 36 lần. Dùng hai ngón tay thay phiên nhau ấn huyệt Dũng Tuyền dưới lòng bàn chân, lặp lại 100 lần.
Lòng bàn chân là nơi tập trung nhiều huyệt vị, kinh mạch quan trọng nên xoa bóp thường xuyên có thể tăng cường chức năng ngũ tạng, chữa mất ngủ, cân bằng huyết áp, giảm đau nhức đầu.
13. Thường xuyên tản bộ
Hãy thẳng lưng, bước đi thoải mái, tự nhiên, lòng không suy nghĩ chuyện vướng bận và thưởng thức phong cảnh trên đường đi. Bách bộ luôn là một hình thức vận động hữu ích, có tác động tích cực tới sức khỏe một cách rõ rệt.
TÔI ĐI HỌC
Thanh Tịnh
(Rut từ tập truyện ngắn Quê Mẹ, 1941)
Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.
Những ý tưởng ấy , tôi chưa lần nào ghi lên giấy vì hồi ấy, tôi không biết ghi và ngày nay, tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.
Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.
Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quý và không ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa.
Trong chiếc áo vải dù đen dài, tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn.
Dọc đường, tôi thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt nhưng một quyển vở cũng chìa ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước ôm sách vở thiệt nhiều lại kèm cả bút và thước nữa nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết.
Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi:
– Mẹ đưa bút, thước cho con cầm.
Mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm:
– Thôi để mẹ nắm cũng được.
Tôi có ngay cái ý kiến vừa non nớt vừa ngây thơ này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước.
Ý nghĩ thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi.
Trước sân trường làng Mỹ Lý đầy đặc cả người, người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa.
Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang làng Hòa An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé trường một lần.
Lần ấy, trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng gì khác là nhà trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng nhưng lần này lại khác. Trước mặt tôi, trường Mỹ Lý vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình Hòa Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ.
Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ.
Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. Chung quanh là những cậu bé vụng về, lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước. Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa vì hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả banh tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp.
Ông đốc trường Mỹ Lý cho gọi mấy cậu học trò mới đứng lên trước lớp ba. Trường làng nhỏ nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ông đọc tên từng người, tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tôi đang đứng sau tôi. Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên đã viết sẵn trên mảnh giấy lớn, ông đốc nhìn chúng tôi nói sẽ:
– Thế là các em đã vào lớp năm. Các em phải cố gắng học để thầy mẹ được vui lòng và để thầy dạy các em được sung sướng. Các em đã nghe chưa? (Các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có tiếng dạ rang của phụ huynh đáp lại).
Ông đốc nhìn chúng tôi với cặp mắt hiền từ và cảm động. Mấy cậu học trò lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra. Và ngoài đường cũng có mấy người đứng dừng lại để nhìn vào. Trong những phút giây này, chúng tôi được người ta ngắm nhìn nhiều hơn hết. Vì vậy, đã lúng túng chúng tôi càng lúng túng hơn.
Ông đốc lấy cặp kính trắng xuống rồi nói:
– Thôi, các em đứng đây sắp hàng để vào lớp học.
Tôi cảm thấy sau lưng tôi có một bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước nhưng người tôi lúc ấy tự nhiên thấy nặng nề một cách lạ. Không giữ được chéo áo hay cánh tay của người thân, vài ba cậu đã từ từ bước lên đứng dưới hiên lớp. Các cậu lủng lẻo nhìn ra sân, nơi mà những người thân đang nhìn các cậu với cặp mắt lưu luyến. Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc. Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo. Tôi nghe sau lưng tôi, trong đám học trò mới, vài tiếng thút thít đang ngập ngừng trong cổ. Một bàn tay quen nhẹ vuốt mái tóc tôi.
Ông đốc nhẫn nại chờ chúng tôi.
– Các em đừng khóc. Trưa này, các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai, các em lại được nghỉ cả ngày nữa.
Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều đặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi vào lớp năm. Một thầy trẻ tuổi, gương mặt hiền từ, đang đón chúng tôi vào cửa lớp. Trong thời thơ ấu, tôi chưa bao giờ xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ vì có nhũng hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đồng làng Lệ Xá, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết.
Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường, tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận rồi tự nhiên nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề biết nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá đến nỗi tôi cũng không dám tin là có thật. Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao.
Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa bay trên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi.
Nhưng những tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đọc: Bài tập viết: Tôi đi học.