Thứ Ba, 22 tháng 10, 2019

LẤY TỞ ONG MẬT

LẤY TỔ ONG MẬT
Nguồn: Báo Mai


Thông thường các loại ong sẽ làm tổ trên cây nhưng có một loại ong có tên là Apis Laboriosa làm tổ trên vách đá dốc thẳng đứng.
Chúng còn có tên là ong đá hay ong mật Hymalaya. Nơi chúng trú ngụ thường ở độ cao hơn 1.500m.
Bộ lạc Gurung của Nepal là những thợ săn mật ong bậc thầy, mạo hiểm mạng sống của họ để lấy mật ong.
Trước khi bắt đầu lấy mật ong trên vách đá, những người của bộ lạc này sẽ thực hiện một nghi lễ.
 
Người ta sẽ dùng khói để có thể xua đàn ong ra khỏi tổ giúp việc lấy mật ong dễ dàng hơn.

Tiếp đó, người lấy mật ong sẽ leo lên một thang dây và chờ khói bốc lên để xua hàng ngàn con ong ra khỏi tổ.
Người lấy mật ong lẫn trong khói dày đặc cầm một thanh tre có buộc một cái liềm để cắt tổ ong rơi ra khỏi vách đá
Ở bên dưới sẽ có một gậy khác buộc cái giỏ và tổ ong sau khi bị cắt sẽ rơi xuống giỏ.
Người đàn ông ở bên dưới đang dõi theo người thu mật ong trên thang dây ở độ cao hàng trăm mét.

Người thu mật ong leo xuống từ trên thang dây với vết phồng rộp, ong đốt và máu chảy. Công việc này cực kỳ nguy hiểm và vất vả.

Sau một lần trèo lên cao để lấy mật ong có thể thu được 20kg.

Dựa vào các tranh trên đá, các nhà Khoa học ước tính công việc lấy mật ong này có thể có từ hàng ngàn năm trước.

Mức giá bán của loại mật ong này có thể lên đến 133 USD đến 177 USD/kg, gấp 6 lần mật ong thông thường.

Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2019

ĐƯỜNG CỔ NGƯ XƯA

ĐƯỜNG CỔ NGƯ XƯA
Nguyễn Ngọc Tiến


Hồ Tây và hồ Trúc Bạch nguyên chỉ là một. Từ thế kỷ 17, người dân đánh cá quanh vùng đắp con bờ nhỏ từ Yên Hoa xuống Yên Ninh cho khỏi đi vòng, rồi sóng vỗ, thời gian xô lở, năm nào cũng phải đắp lại cho vững, thành ra con đường có tên Đê Cố Ngự (nghĩa là giữ cho vững).
Người Pháp quản lý Hà Nội, vốn quen đọc chữ Việt cũng không có dấu giọng, lâu dần chệch ra thành Đường Cổ Ngư.
Trước hết nói về Hồ Trúc Bạch. Hồ này xưa thuộc địa phận làng Trúc Yên, một làng có nghề biên mành trúc. Thời Lê - Trịnh, chúa Trịnh Giang (1711-1762) đã xây một khu để nghỉ ngơi bên hồ nhưng sau biến nó thành lãnh cung gọi là Trúc Tầm Viện. Những cung nữ thất sủng bị đưa ra đây tự lao động để sinh sống bằng nghề chăn tằm, dệt lụa, ôm đau đớn, tủi hổ làm lụng chờ ngày được chúa tha về.
Lạ thay các tấm lụa do cung nữ dệt ra rất đẹp, trở nên nổi tiếng.
"Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng
May áo chàng cùng sóng áo em
Chữ tình gắn với chữ duyên
Xin đừng thay áo mà quên lời nguyền"
Cái tên Trúc Bạch từ Trúc Tầm Viện từ đó mà ra.
Cạnh hồ Trúc Bạch, có làng Ngũ Xã là nơi nổi tiếng về nghề đúc đồng, thờ tổ nghề. Xưa có lò đúc tiền của các triều đại quân chủ. Hương cống Đoàn Nguyễn Tuấn (1750-?), hiệu Hải Ông, đỗ Hương cống đời Lê, làm quan thời Tây Sơn. Đoàn Nguyễn Tuấn để lại một tập thơ chữ Hán là Hải Ông thi tập trong đó có nhiều bài thơ ca ngợi cảnh vật đất Thăng Long. Bài thơ Trúc Bạch tiền lô bằng chữ Hán của ông như sau:

"Cửu trùng cận niệm dụ dân đồ,
Tiền hóa lưu thông Trúc Bạch lô.
Nhân tại kiều đầu hô tống thán,
Hỏa tòng sa thượng xuất phi phù.
Tằng tằng yên trảo Long Châu tự,
Hạo hạo tuyền lưu Mã Cảnh hồ.
Tuế nguyệt phương viên công khóa túc,
Yêu chiền hà tất thướng Dương Châu."

Tạm dịch: Trên cửu trùng (nhà vua) tính kế cho dân đầy đủ. Đồng tiền lưu thông trong nước từ lò Trúc Bạch. Người trên đầu cầu gọi than đưa tới. Lửa từ trên cát tung đàn ve bay. Lớp lớp khói phủ lên chùa Châu Long (gần chợ Châu Long ngày nay). Mênh mông suối chảy vào hồ Cổ Ngựa (khu vực phố Hàng Than ngày nay). Năm tháng vuông tròn, thuế công nạp đủ. Lưng đeo tiền hà tất phải lên Dương Châu. (Phan Trọng Chánh dịch và chú giải).
Sau đó, người ta lên kế hoạch sửa sang lại đường Cổ Ngư và bờ hồ Trúc Bạch đồng thời cũng dự kiến xây nhà hát ngoài trời mang tên Nhà hát Nhân dân ở cuối phố Phó Đức Chính. Sân khấu của nhà hát nằm trên mặt hồ Trúc Bạch.
Tuy nhiên, mới chỉ làm được một việc là mở rộng đường Cổ Ngư. Và cũng từ năm này, bán đảo Ngũ Xã trở thành nơi đổ xỉ than của Nhà máy điện Yên Phụ. Trong bản quy hoạch Hà Nội năm 1943, hồ có diện tích 29,6 ha. Sau khi kè hồ năm 2000, diện tích hồ hiện chỉ còn 22ha mất gần 1/4 diện tích.
Về sự hình thành đường Cổ Ngư, Đại Việt sử ký chép: “Năm 1427 Bình Định Vương Lê Lợi sai đắp đường từ Yên Hoa xuống Cửa Bắc thành Đông Quan để tấn công quân Minh bị vây trong thành”.
Năm 1514 vua Lê Tương Dực sai mở rộng thành Thăng Long, trong đó đắp tường bao quanh cả quán Trấn Vũ. Sử cũ cũng chép năm 1640, dân mấy làng ven hồ cùng nhau đắp thêm tạo ra một cái đập để thuận tiện cho việc bắt cá ở Hồ Tây và Trúc Bạch.
Khi chính phủ Pháp tổ chức đấu thầu phá tường thành Hà Nội, sau đó xây dinh toàn quyền thì Cổ Ngư lại được chú ý. Khi đắp đê Yên Phụ họ cũng mở rộng Cổ Ngư, cho trồng phượng dọc hai bên đường, cho lắp hàng đèn đốt bằng khí đất đèn thắp sáng vào ban đêm.
Tối tối, người của Sở Lục lộ đi mở van dẫn khí từ dưới chân cột lên đèn rồi châm lửa. Trước đó, khi màn đêm buông xuống, thành phố bị bóng đen bao phủ, nay có đèn đường đã tạo ra các hoạt động đô thị buổi tối là bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển Hà Nội. Ánh sáng khiến hồ Tây và Trúc Bạch lung linh và huyền ảo hơn.
Năm 1957, thành phố quyết định mở rộng Cổ Ngư thành đường đôi. Tham gia xây dựng là hàng vạn thanh niên các cơ quan nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn Hà Nội. Ngày Chủ nhật, nghìn nghịt trai gái, kẻ gánh người đẩy xe cải tiến chở đất từ bãi sông Hồng vào đắp đường. Giờ nghỉ giải lao, có nghệ sĩ kéo đàn động viên. Vì đất bãi là cát và phù sa nên người ta cho vật đất dưới hồ đắp hai mép. Vì đường có công sức của hàng vạn thanh niên nên đã đặt tên là đường Thanh Niên.

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2019

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2019

VẺ ĐẸP MIỀN TÂY MÙA NƯỚC NỔI


VẺ ĐẸP MIỀN TÂY MÙA NƯỚC NỔI
Nhiếp ảnh gia Phạm Huy Trung 

Mùa nước nổi hiện lên bình dị qua hàng cây thốt nốt soi bóng ở An Giang cho đến người chèo xuồng hái hoa súng ở Long An.
Vẻ đẹp miền Tây mùa nước nổi
Vào khoảng tháng 7 đến tháng 10 âm lịch hàng năm, con nước từ thượng nguồn sông Mekong lại đổ về tạo thành một biển nước tràn đồng. Nhiếp ảnh gia Phạm Huy Trung (TP HCM), đã thực hiện bộ ảnh về mùa nước nổi miền Tây trong 3 năm qua. Trên hình là người nông dân lội nước thu hoạch trên cánh đồng năng ở Tháp Mười, Đồng Tháp.

Hàng cây thốt nốt soi bóng trên màu nước phù sa Tịnh Biên, An Giang. An Giang và Đồng Tháp là những tỉnh đón nước đầu tiên, sau đó tới các vùng khác trong khu vực đồng bằng sông Cửa Long. Tùy theo năm mà lũ về sớm hay muộn. Năm nay, con nước về muộn, tận cuối tháng 8 âm lịch.

Mùa nước nổi cũng là mùa mưu sinh của người dân miền Tây, lúc này các đàn cá đồng, đặc biệt là cá linh non theo con nước đổ về, mang đến nguồn lợi thủy sản phong phú.

Ngư dân quăng chài đánh bắt cá trên cánh đồng Châu Đốc, An Giang.

Những thửa ruộng tại Tri Tôn, An Giang.
Cảnh mưu sinh trên cánh đồng ngập nước trong ánh hoàng hôn ở Mộc Hóa, Long An.
Nông dân cày ruộng chuẩn bị cho mùa vụ mới tại Mộc Hóa. "Tháng 7 nước nhảy khỏi bờ” là cách nói của người miền Tây về mùa nước nổi, khi dòng lũ nặng phù sa từ thượng nguồn đổ ngập ruộng đồng.

Đàn trâu băng qua đồng lũ trong buổi chiều ở Tân An, Long An.

Chăn vịt trên đồng lũ là hình ảnh quen thuộc với người dân miền Tây.

Người phụ nữ hái hoa súng, xung quanh là mảng bèo xanh nổi trên mặt nước tại Tân An.

Những người phụ nữ rửa hoa súng cho sạch bùn đất sau khi hái trên cánh đồng Mộc Hóa.
Bông súng trồng thường có màu tím đỏ, cọng mập do được chăm sóc tốt. Còn súng hoang thường màu trắng, cọng dài, có khi đến 3 - 5m. Nước dâng tới đâu, bông súng cao theo tới đó.

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2019

NẾU ĐỜI KHÔNG CÓ EM

NẾU ĐỜI KHÔNG CÓ EM
Nhạc và lời: Thủy Lâm Synh
Tiếng hát: Ca sĩ Lê Minh Trung
Hòa âm: Phan Tấn Uyên

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2019

SÁU CÂY CẦU GẮN BÓ VỚI LỊCH SỬ SÀI-GÒN

SÁU CÂY CẦU GẮN BÓ VỚI LỊCH SỬ SÀI-GÒN
Đinh Quang Tuấn 


Hơn 300 năm hình thành và phát triển, vùng đất Sài Gòn đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử. Trong đó, những cây cầu đã gắn liền với thời gian, ký ức của người Sài Gòn và đã tạo nên những nét độc đáo, tiêu biểu về hình ảnh của người Sài Gòn từ xưa đến nayXin giới thiệu hình ảnh 6 cây cầu tiêu biểu đã gắn liền với người dân Sài Gòn từ qua nhiều năm xây dựng và phát triển.
1.. Cầu Mống

“Cầu Mống” là tên tiếng Việt của cây cầu “Messageries Maritimes Company Bridge” theo thời Pháp thuộc đặt. Nằm ở trung tâm với khung cảnh rất lãng mạn. Từ thời Pháp thuộc, cầu Mống ở Sài Gòn đã trở thành nơi hẹn hò của các bạn trẻ.
Vào giai đoạn năm 1893 – 1894, cây cầu được hoàn thành có chiều dài 128 mét, rộng 5.2 mét và 0.5 mét lề đường.
Vào những năm 2000, khi công trình đại lộ Đông Tây và đường hầm sông Sài Gòn được thi công, Cầu Mống đã được tháo dỡ hoàn toàn. Sau khi công trình hoàn tất, Cầu Mống được lắp ghép lại đúng nguyên bản. Điểm khác biệt duy nhất chính là các đường dẫn lên cầu đã được phá bỏ, và thay thế bằng bậc tam cấp dành cho người đi bộ.
Những ai sống ở Sài Gòn, chắc hẳn sẽ không ai lấy làm xa lạ với cây cầu nổi bật một màu xanh ngọc bích, bắc qua kênh Bến Nghé nối liền giữa quận 1 và quận 4. Được xây dựng hơn trăm năm nay từ thời Pháp thuộc, Cầu Mống ngày nay đã trở thành địa điểm hẹn hò lý tưởng của các bạn trẻ, là điểm thăm viếng của du khách thích đi loanh quanh khám phá thành phố.
2. Cầu Thị Nghè

Cầu Thị Nghè bắc qua rạch Thị Nghè (đoạn gần hạ lưu đổ ra sông Sài Gòn), nối quận 1 và quận Bình Thạnh. Cầu Thị Nghè được cho là do bà Nguyễn Thị Khánh, con gái quan khâm sai Nguyễn Cửu Vân xây vào thế kỷ 18 (khoảng năm 1725-1750) để chồng tiện đường qua Sài Gòn làm việc.. Chồng bà là thư ký, đương thời gọi là ông Nghè nên nhân dân gọi bà là Bà Nghè.
Theo sử sách, vùng Thị Nghè xưa là nơi có khu ruộng Tịch Điền, đàn Xã Tắc, miếu thờ Thần Nông, đàn Tiên Nông (những cơ sở này nằm trước nhà thương dưỡng lão, nay là Trung tâm dưỡng lão Thị Nghè), miếu Văn Thánh…
3. Cầu Bông

Theo cố nhà văn Sơn Nam, cầu Bông được xây dựng vào khoảng thế kỷ 18, (khoảng năm 1736). Đây là một trong những cầu được xây dựng đầu tiên ở vùng đất Sài Gòn. Cầu Bông được làm bằng gỗ, nhỏ và ngắn nhưng khá nổi tiếng của đất Sài Gòn – Gia Định. Ban đầu cầu có tên là Cao Miên, vì có một Phó vương Cao Miên lúc đó đang xin tá túc tại Bến Nghé, cho bắc cầu qua sông để tiện việc đi lại.
Về cái tên cầu Bông có nhiều giả thiết nhưng giả thiết được nhắc đến nhiều nhất là sau khi Tả quân Lê Văn Duyệt xây dựng một vườn hoa gần cầu này thì dân gian bắt đầu gọi là cầu Hoa. Sau này, người dân phải đọc trại thành cầu Huê vì kiêng tên bà Hồ Thị Hoa là vợ vua Minh Mạng, mẹ vua Thiệu Trị (triều Nguyễn). Sau cùng, người dân Sài Gòn đổi hẳn tên cây cầu này là cầu Bông (bông là hoa theo cách gọi của người miền Nam) cho đến nay.
Trải qua hơn 200 năm lịch sử, cầu Bông nhiều lần bị phá hủy, đánh sập nhưng nó vẫn được xây mới ngay tại vị trí cũ bởi đây là cây cầu huyết mạch nối liền hai vùng thị tứ của vùng đất Sài Gòn xưa. Trước 1975, cầu Bông được xem là giao thông trọng yếu nối liền vùng Đakao của đô thành Sài Gòn với trung tâm tỉnh Gia Định (khu vực chợ Bà Chiểu ngày nay).
Tháng 10/2013, cầu Bông xây dựng từ trước năm 1975 được tháo dỡ để xây dựng mới. Cầu Bông mới được giao thông vào tháng 6/2014 với độ tĩnh không được nâng cao thêm tạo thuận lợi cho các phương tiện đi trên đường Hoàng Sa và Trường Sa được lưu thông thông suốt dưới dạ cầu
4.Cầu Bình Lợi

Bình Lợi là cây cầu sắt vượt sông Sài Gòn đầu tiên, được xây dựng và hoàn thành năm 1902. Cầu được kết cấu vòm thép, mặt gỗ, và có đường ray xe lửa nối Sài Gòn và Biên Hòa.
Sau 113 năm khai thác, cầu đã bị xuống cấp nghiêm trọng, chiều cao thông thuyền của cầu chỉ còn 1,8 m nên khi có thủy triều lên, nhiều tàu đã mắc kẹt dưới gầm cầu.
Bộ GTVT đã xây dựng cầu đường sắt Bình Lợi mới (nay gọi là cầu Bình Lợi 2) trên đường Phạm Văn Đồng. Cầu Bình Lợi mới được xây cách cầu cũ 12 m về phía hạ lưu với độ thông thuyền 7 m để không ảnh hưởng đến giao thông thủy. Sau khi hoàn thành sẽ giúp vận tốc chạy tàu qua cầu Bình Lợi đạt 100 km/h.
5. Cầu Chữ Y

Cầu do người Pháp xây dựng vào cuối năm 1938 và hoàn thành năm 1941. Cầu nối quận 5 và quận 8 với ba nhánh giống như hình một chữ Y lớn: nhánh đường Nguyễn Biểu dài 175 m, nhánh Nguyễn Thị Tần dài 178,3 m; nhánh Hưng Phú dài 137 m. Tổng cộng chiều dài các nhánh là 490,3 m tính luôn đoạn cầu dẫn dài 913 m. Khu vực lồng cầu (ở giữa) có ba nhánh rộng 9 m, mỗi lề 0,7 m. Độ cao tĩnh không cách mặt nước là 6,3 m. Toàn bộ công trình khi xây dựng tiêu tốn 800 tấn thép và hơn 4.000 m3 bê tông.
Cầu được nhiều lần sửa chữa lớn vào các năm 1948, 1957, 1992. Ngày 30/9/2006, trong chương trình cải tổ về giao thông của thành phố, nhánh cầu chữ Y phía quận 5 được hạn chế xe để tháo dỡ và xây lại cầu mới để bảo đảm độ cao dưới đường Đại lộ Đông – Tây.
6. Cầu Nhị Thiên Đường

Cùng thời với những cây cầu nổi tiếng của Sài Gòn xưa như cầu Chà Và, cầu Chữ Y...cầu Nhị Thiên Đường (còn được gọi là Cầu Mới) là một trong những công trình tiêu biểu của Sài Gòn xưa. Cầu bắc ngang qua một nhánh kênh đôi Tàu Hũ, nối liền nội đô quận 8 với vùng phụ cận, với huyện Cần Đước (Long An) qua Gò Công về các tỉnh miền Tây.
Cây cầu xây dựng năm 1925, dài khoảng 1km, được đổ bê tông chắc chắn và thiết kế theo lối kiến trúc cổ của Pháp.
Theo thời gian, cây cầu Nhị Thiên Đường đã gần 100 tuổi. Hiện nay, cây cầu đang xuống cấp nặng, những cột đèn, trụ lan can, đường dẫn điện.... không còn sử dụng được nữa.Nhiều người dân ở khu vực này thấy tiếc nuối khi hay tin cây cầu sắp phải bị phá đi để xây cầu mới.
Mới đây, TP. Sài Gòn đã cho phép Sở GTVT thực hiện đề án xây dựng, xây cầu Nhị Thiên Đường mới với kinh phí 163 tỷ đồng. Cây cầu mới sẽ được dịch chuyển về phía cây cầu Nhị Thiên Đường 2. Cầu mới sẽ có nghiên cứu thiết kế để khôi phục (lan can, đèn chiếu sáng trang trí...) nhằm gợi nhớ một số nét kiến trúc của cây cầu Nhị Thiên Đường hiện hữu.