Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2015

NGƯỜI BÁC SĨ CÓ PHÉP LẠ

NGƯỜI BÁC SĨ CÓ PHÉP LẠ
Đông Minh
Đại hội thần kinh thế giới lần thứ 22 diễn ra tại Santiago, Chile (31/10 -5/11) năm nay. Nhiều người thấy ngạc nhiên vì có một cái tên Việt Nam xuất hiện trong tư cách là ứng cử viên Ủy viên giám sát của Ủy ban điều hành Hội thần kinh thế giới (WFN), đó là bác sĩ Daniel Trương Dũng ở thành phố Fountain Valley. Orange County. Ca.
BS Daniel có nhiều khám phá mới trong việc chữa trị bệnh Parkinson .... Được biết ông là cựu học sinh trường trung học Võ Trường Toản, Saigon.
Trong giới thần kinh thế giới, bác sĩ Daniel Trương là một nhân vật “quen mặt” – một bác sĩ nổi tiếng trong ngành thần kinh Parkinson và là diễn giả có mặt ở rất nhiều Hội nghị chuyên ngành quốc tế khắp nơi trên thế giới.
Nếu đắc cử vào chức vụ Ủy viên giám sát, bác sĩ Daniel Trương sẽ cùng 4 nhà khoa học nữa điều hành các chương trình nghiên cứu trong địa hạt thần kinh trên thế giới trong bốn năm tới.
                                               Bác sĩ Daniel chữa bệnh cho người Mỹ
Để ứng cử vào vị trí này, mỗi ứng cử viên cần có 5 nước đề cử. Bác sĩ Daniel được sự tín nhiệm của 14 Hội thần kinh quốc gia gồm có Mỹ, nơi ông đang làm việc, Việt Nam – nơi ông sinh ra - Đức, Bulgaria, Trung Quốc, Hungary, Kazakhstan, Kuwait, Mexico, Pakistan, Rumania, Saudi Arabian, Slovenia, Singapore… cho đến trước ngày khai mạc Hội nghị 31/10 năm nay.
Chủ tịch Hội thần kinh Việt Nam, GS.TS Lê Hinh nhận xét: “Ông ấy là một bác sĩ tài năng và tâm huyết. Thay mặt cho Hội thần kinh quốc gia Việt Nam, tôi đề cử bác sĩ Daniel Truong và tôi tin ông ấy xứng đáng cho vị trí này”.
Bác sĩ Daniel là người Việt Nam đầu tiên đến Đức theo học ngành Y từ năm 1967 và sau này tiếp tục học bác sĩ nội trú tại các đại học danh tiếng như như Medical University of South Carolina, thực tập sinh tại Columbia University và London’s National Hospital for Nervous Disease.
Ông trở nên nổi tiếng ở Mỹ từ những năm 1990 - khi tờ Los Angeles Times gọi ông là “bác sĩ có phép lạ” – khi lần đầu tiên ở Mỹ, có những bệnh nhân Parkison , bệnh nhân bệnh tắt tiếng lâu năm và mất hết hy vọng đã hồi sinh trở lại các sinh hoạt bình thường.
Hơn 20 năm nay, kể từ khi sáng lập Viện The Parkinson and Movement Disorder ở Fountain Valley, California, bàn tay tài hoa của vị bác sĩ đã đem lại cuộc sống bình thường cho hàng ngàn bệnh nhân Parkinson và các bệnh về thần kinh nan y khác, như bệnh tắt tiếng (người bệnh tự nhiên mất khả năng nói). Bệnh nhân của ông đến từ khắp nơi trên đất Mỹ và thế giới. Có những khi bệnh nhân ở xa phải đặt lịch trước cả nửa năm mới gặp được danh y.
                                            Bác sĩ Daniel tại một Hội thảo ở Kazakhsta
Trăn trở muốn giúp đỡ nhiều hơn cho bệnh nhân ở xa, từ năm 2005, ông đã sử dụng Internet, qua skype để chẩn bệnh và điều trị cho họ. “Chỉ những những bệnh nhân nào ở xa cần can thiệp bằng phẫu thuật đặt điện cực trong não mới phải đến trực tiếp” – Bác sĩ Daniel nói. Vì thế, ông giúp được cho nhiều người người hơn, trong đó có cả các bệnh nhân ở Việt Nam.
Thành danh trên đất Mỹ nhưng trong trái tim ông, Việt Nam vẫn luôn rất gần. Ông trở về Việt Nam từ những ngày đầu tiên sau Đổi mới và đã đưa một số chương trình đào tạo quốc tế về Việt Nam: “Nếu mời một vài bác sĩ sang Mỹ học, cũng rất tốn kém nhưng khi về, một mình họ không đủ sức làm thay đổi cả một lối làm việc. Tôi muốn có càng nhiều bác sĩ ở Việt Nam được gặp gỡ, học hỏi từ các chuyên gia thần kinh hàng đầu thế giới. Vì thế, tôi trở về Việt Nam để tổ chức các Hội nghị và các khóa huấn luyện”.
Dự định của ông đã thành hiện thực, khi ông cộng tác với Hội thần kinh thế giới trong vai trò là thành viên Ủy ban Xuất bản (Publication Committee) năm 2002. Với nhiệm vụ phát triển tạp chí Thần kinh quốc tế, ông đã có nhiều đóng góp vào hoạt động của Hội từ thời gian đó. Cũng từ đây, ông có cơ hội kết nối và tổ chức thành công một Hội nghị Y khoa quốc tế đầu tiên tại Việt Nam.
Bác sĩ Daniel đã mời các giáo sư quốc tế tới TP Hồ Chí Minh huấn luyện cho bác sĩ Việt Nam. Công việc đó không chỉ được duy trì tại Việt Nam nhiều năm qua mà trong quá trình làm việc, ông đã phát triển chương trình để đưa đến nhiều quốc gia đang phát triển khác. “Các nước đang phát triển cần tiếp cận với những phương pháp tiên tiến nhất trên thế giới” – Bác sĩ Daniel nói. 
Ông đã đưa những chương trình tập huấn, hội thảo tới hàng loạt nước như Mông Cổ, Indonesia, Uzbekistan and Kazakhstan, Ấn Độ, Pakistan. Lịch trình của bác sĩ Daniel luôn bận rộn, khi thì thuyết giảng ở Đức, Ý, Tây Ban Nha, lúc thì tập huấn ở Nga, Uzbekistan bên cạnh những ca chữa bệnh đặt trước tại bệnh viện nơi ông đang làm việc. Với những chương trình giúp đỡ của ông cho các quốc gia, ông đã được nhiều nước như Nga, Ấn Độ, Pakistan… phong Giáo sư danh dự.
                 Ông được phong giáo sư danh dự ở nhiều quốc gia
Khi tôi hỏi ông đã được phong giáo sư danh dự ở những quốc gia nào, vị bác sĩ ngẩn người: “Ồ, chị hỏi bất ngờ, tôi không nhớ rõ lắm. Mới đây nhất thì là Đại học Y khoa Kazakh”. “Tôi biết trường Đại học Y TP Hồ Chí Minh cũng đang chuẩn bị các thủ tục để phong Giáo sư danh dự cho ông?” – “Việc này thì chị phải hỏi họ chứ (cười), tôi không rõ các thủ tục đâu. Thường họ sẽ sắp xếp và chỉ khi trao bằng danh dự, họ sẽ mời tôi đến. Nhiều khi tôi cũng bất ngờ, ví như sau Hội nghị tháng 9 vừa rồi ở Kazakhstan, tôi bỗng được mời lên bục danh dự nhận bằng. Điều tôi vui là có thể hỗ trợ cho các đồng nghiệp ở các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam quê hương”.
Ở tuổi 67 nhưng sức làm việc của ông thật phi thường. Trên 140 ngàn dặm bay mỗi năm dành cho các chương trình giảng dạy ở nước ngoài, chưa kể công việc ở Viện thần kinh nơi ông đang làm việc.
Đến nay, ngoài hơn 150 bài viết cho tạp chí y khoa Peer Review, bác sĩ Daniel Trương còn là tác giả của bảy cuốn sách quan trọng viết cho các bác sĩ chuyên môn ngành thần kinh và tâm thần. Các cuốn sách trên đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác như Pháp, Nga, Trung Hoa, Tây Ban Nha, Thái Lan và Việt Nam.
Ông đã và đang là thành viên Hội đồng biên tập của 4 tạp chí Thần kinh hàng đầu thế giới như Journal of Neural Transmission (2006-2008), Journal of Parkinsonism and Related Disorders (2005-2013), board, Journal of Neurological Sciences (2006-2013), Future Neurology (2007- tới nay), World Neurology (2003- 2013)…và là biên tập viên của nhiều tạp chí thần kinh thế giới khác. Tiếng nói có thẩm quyền của ông sẽ quyết định thông tin nào của các nhà nghiên cứu chuyên môn là đáng được đăng tải.

Về BS Daniel Dũng Trương
Đêm định mệnh
“17 tuổi (1967 – NV), tôi đã muốn thoát ly gia đình. Sau khi đậu tú tài toàn phần với tấm bằng loại ưu và được suất học bổng du học, tôi lấy chiếc compa mở hết cỡ, đặt trên tấm bản đồ thế giới, lấy tâm điểm là Việt Nam rồi xoay một vòng đến chỗ nào xa nhất mà tôi tin rằng mình ít biết đến nhất thì tôi chọn. Cuối cùng, tôi chọn nước Đức mặc dù lúc đó, tôi chỉ nói ngọng nghịu vài câu tiếng Đức”, bác sĩ Daniel Dũng Trương thành thật.
Giấc mơ của chàng trai Việt mang tên Trương Dũng là đến Đức học tập để trở thành một kỹ sư điện tử nhưng như là tiền định, một cuốn sách viết về một bác sĩ kỳ diệu của tác giả Cronin mà anh đọc ngốn ngấu một đêm cho quên đi nỗi nhớ nhà đã làm thay đổi định hướng của anh. 
Sau đêm đó, Trương Dũng quyết định bỏ ngành điện tử để thi vào ngành y khoa. “Đó là cái đêm định mệnh của cuộc đời tôi”. Ở Đức, y khoa là một ngành học rất khó và những ai muốn thi vào Đại học Y khoa cũng phải qua những cửa ải gian khổ. Trương Dũng thi đại và đỗ. Sau 5 năm rưỡi mài mòn đũng quần ở trường y khoa, chàng sinh viên Việt đã tốt nghiệp. Đó là cũng một kỳ tích. Tấm bằng Đại học Y khoa mà anh lấy được sớm hơn các bạn cùng khóa đến 2 năm. Sau một thời gian, chàng bác sĩ trẻ quyết định sang Mỹ để học thêm chuyên ngành thần kinh học tại trường Đại học South Carolina. 
Ý chí mãnh liệt. 
Với 2 tấm bằng tốt nghiệp y khoa, bác sĩ Trương Dũng hăm hở đi tìm việc. Anh đến bệnh viện của một vị giáo sư cao niên và nổi tiếng nhất ở Mỹ lúc đó. Giáp mặt bác sĩ trẻ người Việt nhỏ thó, ông giáo sư người Mỹ nhìn Trương Dũng từ đầu xuống chân và lắc đầu, khoát tay. “Lúc đó, tôi đã đứng như trời trồng. Dường như tôi nghe cái gì đó đắng chát ở cổ họng. Rồi tôi cũng nhìn chằm chằm từ đầu đến chân ông giáo sư. Tôi thấy mình là người Việt thì cũng đủ các ngũ quan như ông ta. Tôi có kiến thức chuyên môn hẳn hoi và khát khao được làm việc. Vậy thì tại sao tôi không được nhận?”. 
Không nản lòng, ngày hôm sau Trương Dũng lại đến. Lần này thì ông giáo sư “tiễn” anh ra khỏi khoa và còn nói với theo một câu: “Tôi rất nhiều việc. Cậu đừng đến làm phiền nữa nhé!”. Trương Dũng lại lầm lũi lê bước chân nặng nề về căn phòng ở trọ. Như vậy cũng không “ép phê” gì so với quyết tâm cháy bỏng của chàng trai trẻ. Và lần thứ 3, anh lại đến. Oái oăm hơn, người đàn ông khó tính này lại “lịch sự” tiễn Trương Dũng ra tận cổng bệnh viện và phũ phàng buông một câu: “Khu vực này trời tối anh nên về đi. Hy vọng đây là lần cuối tôi gặp anh!”. 
“Lần cuối. Tôi nghe câu nói đó giống như cánh cửa bệnh viện này đã đóng sầm lại rồi. Một suy nghĩ loáng qua đầu tôi, không lẽ cánh cửa trái tim ông ấy cũng khóa nốt với tôi. Và tôi đã lập tức quay lại. Tôi nói với ông ta là tôi sẽ làm không công. Vị giáo sư ngạc nhiên và gọi điện cho thầy tôi. Ông nghĩ rằng định mệnh của tôi đúng là ngành thần kinh. Thế là vị giáo sư mềm lòng”. Bác sĩ Daniel Dũng Trương bồi hồi kể.
Lòng say mê học hỏi và năng lực thật sự của Trương Dũng khiến vị bác sĩ tài năng và khó tính này cũng phải kiêng nể. Bí quyết thành công, theo bác sĩ Daniel Dũng Trương là phải biết đấu tranh quyết liệt và kiên trì đến phút chót: “Ở các trường đại học ở Mỹ, người ta coi bạn mình cũng là đối thủ. Những ai muốn tiến bộ thì phải tìm cách vượt qua đối thủ. Tôi đấu tranh ngay với cả thầy của mình. Tôi không sợ trù dập. Trong xã hội Mỹ, mình phải sẵn sàng đương đầu khi phải đương đầu với bất kỳ ai. Người ta cũng cảm thấy chuyện đó là bình thường, là cần thiết. Sau này, trong nghiên cứu sự cạnh tranh còn khắc nghiệt hơn”. 
Vị cứu tinh của nhiều người. 
Danh tiếng về khả năng chữa bệnh Parkinson và các bệnh rối loạn cử động của bác sĩ Daniel Dũng Trương được biết đến không chỉ ở Mỹ mà truyền đi khắp thế giới. Ông đã mang lại giọng nói bình thường cho nhiều phát thanh viên, diễn viên tại Mỹ khi họ mắc chứng bệnh này. Có hơn 15.000 người trên thế giới là bệnh nhân của vị bác sĩ gốc Việt này. Trong đó có những người rất nổi tiếng như ngôi sao điện ảnh, chính khách. Khâm phục tài năng và đức độ của ông có một bệnh nhân đã sẵn sàng tặng ông 1 triệu USD hoặc Giám đốc nhân sự của cựu Tổng thống Bill Clinton khi Bill Clinton còn là Thống đốc bang Arkansas thì đề nghị tặng bộ óc sau khi qua đời để bác sĩ Daniel Dũng Trương dùng trong nghiên cứu.
Trong các bài báo tiếng Anh viết về người bác sĩ biết làm phép lạ này đã ghi lại những câu chuyện hết sức xúc động. Deadmond là một bệnh nhân điển hình của vị bác sĩ gốc Việt này. Một hôm cô thức dậy và cứ ngỡ rằng mình bị viêm thanh quản. Ai ngờ chứng bệnh kéo dài suốt 7 năm. Tình trạng của Deadmon ngày càng trầm trọng hơn đến nỗi cô không thể ăn. Ngay chuyện trả lời điện thoại cô cũng không còn làm được. Khi đến phòng mạch bác sĩ Trương, cô Deadmon thổ lộ: “Ông ấy là hy vọng cuối cùng”. Và đúng là như vậy, bác sĩ Trương đã chữa khỏi cho cô gái. Susan Becraft, một bệnh nhân khác của bác sĩ nói: “Đối với chúng tôi, ông ấy là một siêu anh hùng”. Bác sĩ Trương đã chữa lành cho Becraft chứng cứng cơ đòn gánh, một rối loạn vận động ở cổ. Còn Barbara Rood nhờ bác sĩ Trương mà sau hai năm đã lấy được giọng nói đã mất, phát biểu: “Tôi tưởng tượng như mình trồi lên từ đêm đen, như người mù được sáng mắt”.
Trong vài lần về Việt Nam với thời gian ngắn ngủi, bác sĩ Daniel Dũng Trương đã dành từng giây, từng phút để điều trị cho nhiều người mắc chứng bệnh Parkinson trầm trọng mà hầu như trong nước, họ không có cơ may chữa khỏi. Vị bác sĩ tài giỏi này còn có một cách chữa bệnh “từ xa” rất đặc biệt thông qua sự điện thoại, e-mail, webcam để theo dõi bệnh nhân. Điển hình là NSND Thanh An mắc chứng Parkinson rất lâu đã được ông chữa bệnh qua webcam và bệnh tình đã thuyên giảm. 
Nhà khoa học lớn và trái tim nhân hậu. 
Bác sĩ Daniel Dũng Trương được coi là người đầu tiên chứng minh có thể sử dụng chất botox để chữa bệnh tắt tiếng. Cùng với người thầy của mình là bác sĩ Tenny Fox – cựu Chủ tịch Hội Thần kinh Hoa Kỳ, ông đã dành trọn 17 năm miệt mài nghiên cứu để tìm ra phương pháp dùng botox điều trị bệnh tắt tiếng một cách hiệu quả nhất. Tên tuổi của ông còn gắn liền với bảng phân loại về các bệnh cử động học. Vị bác sĩ gốc Việt này từng làm chủ tọa nhiều hội nghị ngành thần kinh tầm cỡ quốc tế với sự tham gia của hàng ngàn nhà khoa học. Ông đồng chủ biên 4 tờ báo y khoa hàng đầu thế giới và biên tập cho 20 tạp chí y khoa khác. Riêng các bác sĩ chuyên ngành thần kinh ở Việt Nam không thể không “gối đầu giường” cuốn Thần kinh học lâm sàng do BS Daniel Dũng Trương và đồng nghiệp viết. Hàng trăm báo cáo về bệnh thần kinh của ông đã được đồng nghiệp tham khảo và thán phục. Mới đây, ông được bầu vào chức Chủ nhiệm Tiểu ban đào tạo cho những nước đang phát triển của Hội Thần kinh quốc tế. Năm 1991, ông được mời chủ tọa cuộc họp thường niên của Hội Thần kinh Hoa Kỳ. Cuốn sách Vẻ vang dân Việt chọn ông là 1 trong 2 nhân vật tiêu biểu của cộng đồng người Việt ở hải ngoại, trung bình mỗi năm ông đi thuyết trình tại 10 nước. 
            Daniel Dũng Trương đang chữa cho người bị mắc chứng Parkinson.  Ảnh:Q.V.
Nổi tiếng khắp thế giới và được đồng nghiệp nghiêng mình kính nể nhưng ở nước Mỹ xa xôi, vị bác sĩ tài hoa này vẫn đau đáu hướng về cội nguồn. Nhiều bệnh nhân người Việt có hoàn cảnh khó khăn được ông tặng thuốc để chữa trị mặc dù có những loại thuốc rất đắt. Ông đang ôm ấp một dự định là xây dựng một bệnh viện thần kinh hiện đại tại Việt Nam để chữa trị cho đồng bào của mình. Sát cánh bên bác sĩ là người vợ giỏi giang hiện đang là giám đốc một đài truyền hình tại Mỹ kiêm thành viên ban giám sát ở Trung tâm Orange Coast Memorisl Medical. Bà thường xuyên vận động để phụ nữ Việt kiều tham gia vào xã hội nhiều hơn và tận dụng được nhiều các cơ hội quanh họ. Bên cạnh đó, bà cũng giúp họ duy trì mối liên hệ với cội nguồn đất Việt vì cho rằng nếu không quan tâm, thế hệ thứ hai, thứ ba của cộng đồng Việt sẽ rời xa dần những truyền thống. Nhiều người Việt còn biết đến người vợ của vị bác sĩ nổi tiếng này trong vai trò thành viên ban hòa tấu Pacific Symphony Orchestra và Tổ chức âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Họ cùng sống, làm việc và giúp người khác bằng đôi tay lương y tài hoa và tinh thần độc lập đầy nhân bản.

Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2015

NHỮNG ĐÔI THIÊN NGA SUỐT ĐỜI BÊN NHAU

NHỮNG ĐÔI THIÊN NGA SUỐT ĐỜI BÊN NHAU
Bác sĩ Phùng Văn Hạnh





NHÌN ĐÔI THIÊN NGA CẢM TÁC


đôi thiên nga suốt đời bên nhau
duyên dáng, keo sơn, lông trắng phau
nước biếc, núi xanh, vòng bốn phía
cổ cong, mỏ đỏ, chụm hai đầu
an bình thế giới yêu đương ấy
xa cách nhân gian hạnh phúc đâu!
Một phút ngắm nhìn thanh thản dạ
xông pha quét sạch những thương đau.
Phùng Văn Hạnh

Kính họa

Lóng lánh mặt hồ, áp cạnh nhau
Thiên nga chụm sát ánh gương phau
Thì thầm quyến luyến từ muôn thuở
Thủ thỉ yêu thương đến bạc đầu
Tự tại thế nhân tìm khắp nẻo
An nhiên trần tục kiếm nơi đâu
Diệu huyền trăng nước đôi ta ngắm
Thách đố trần gian mặc khổ đau!
Dân Nam


Thiên Nga kính họa 

Đôi cánh chim trời vẫn quấn nhau 
Hồ xuân điểm bạc trắng phau phau 
Một vùng nước biếc đôi tình nhỏ 
Đôi mỏ say sưa nhạc khúc đầu 
Mặc kệ thời gian như gió cuốn 
Tình ta một thuở khó tìm đâu 
Thế nhân sao chẳng như ta hưởng ?
Chinh chiến luân hồi mãi khổ đau !!
Hồ Muối 

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2015

HAPPY THANKSGIVING

HAPPY THANKSGIVING

T8.gif
Blogger Thành Phố Gió
Kính chúc quý độc giả

Một dịp lễ Tạ Ơn vui tươi và hạnh phúc!
T1.gif

Thứ Ba, 24 tháng 11, 2015

BÀ TRIỆU ẨU : TRIỆU THỊ TRINH

BÀ TRIỆU ẨU: TRIỆU THỊ TRINH
Nguồn: Lịch sử Việt Nam


"Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người ta"

Cuộc Khởi Nghĩa Của Triệu Thị Trinh (248) 
"Muốn coi lên núi mà coi, 
Có Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng" 

Trong lịch sử đấu tranh chống ách đô hộ và giành độc lập cho nước nhà, nếu đỉnh cao của thế kỷ I là khu vực Giao Chỉ và đỉnh cao của thế kỷ II là vùng Nhật Nam, thì đỉnh cao của thế kỷ III lại là quận Cửu Chân. Thực ra, ngay từ cuối thế kỷ II, nhân dân Cửu Chân cũng đã từng phối hợp chặt chẽ với nhân dân Nhật Nam trong cuộc đấu tranh chống ách thống tri của nhà Hậu Hán. Chính họ đã góp phần không nhỏ vào quá trình tạo lập nên vương quốc của người Chăm (năm 192). Tuy nhiên, chói lọi nhất thế kỷ III vẫn là cuộc khởi nghĩa ở trung tâm quận Cửu Chân do Triệu Thị Trinh phát động và lãnh đạo.
Triệu thị Trinh sinh ngày 2 tháng 10 nǎm 226 (Bính Ngọ) tại huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá trong một gia đình hào trưởng. Triệu thị Trinh là một phụ nữ có tướng mạo kỳ lạ, người cao lớn vú dài nǎm thước. Bà là người tính tình vui vẻ, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, trí lực hơn người. Truyền thuyết kể rằng, có lần xuất hiện một coi voi trắng một ngà phá phách ruộng nương, làng xóm, làm chết người. Triệu Thị Trinh dũng cảm cầm búa nhảy lên dùng tài làm con voi lạ gục đầu xin qui thuận. 
Khi nhà Ngô xâm lược đất nước gây nên cảnh đau thương cho dân chúng, khoảng 19 tuổi Triệu thị Trinh bỏ nhà vào núi xây dựng cǎn cứ, chiêu mộ nghĩa quân đánh giặc. Khi anh trai nhắn về nhà gả chồng, bà đã trả lời tỏ rõ khí phách của mình mà đến nay không mấy người Việt Nam là không biết: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá tràng Kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ sao lại chịu khom lưng làm tì thiếp người ta". Truyền thuyết kể rằng, nǎm 248 khi Triệu Thị Trinh khởi nghĩa trời đã sai đá núi loan tin tập hợp binh sĩ trong vùng. Đêm khuya từ lòng núi đá phát ra rằng:
"Có Bà nữ tướng.
Vâng lệnh trời ra.
Cỡi voi một ngà.
Dựng cờ mở nước.
Lệnh truyền sau trước.
Theo gót Bà Vương".
Theo đó, dân chúng trong vùng hưởng ứng nhiệt liệt, có người mang theo cả bộ giáp vàng, khǎn vàng.... dâng cho bà. Anh trai bà là Triệu Quốc Đạt được tôn làm Chủ tướng. Bà Triệu là Nhuỵ Kiều tướng quân (Vị tướng yêu kiều như nhuỵ hoa). Khi ra trận Bà mặc áo giáp vàng, chít khǎn vàng, đi guốc ngà, cưỡi voi một ngà. Quân Bà đi đến đâu dân chúng hưởng ứng, quân thù khiếp sợ. Phụ nữ quanh vùng thúc giục chồng con ra quân theo Bà Vương đánh giặc. Cho đến nay nhân dân vùng Thanh Hoá và lân cận còn nhiều câu ca, lời ru con nói về sự kiện này. 
Sau hàng chục trận giao tranh với giặc, trận thứ 39 anh trai bà là Triệu Quốc Đạt tử trận, Bà Triệu lên làm chủ tướng và lập nên một cõi giang sơn riêng vùng Bồ Điền khiến quân giặc khó lòng đánh chiếm. Biết bà có tính yêu sự trong sạch , ghét quân dơ bẩn, quân giặc bố trí một trận đánh từ tướng đến quân đều loã thể. Bà không chịu được chiến thuật đê hèn đó phải lui voi giao cho quân sĩ chiến đấu rồi rút về núi Tùng. Bà quì xuống vái trời đất: "Sinh vi tướng, tử vi thần" (Sống làm tướng, chết làm thần) rồi rút gươm tự vẫn. 
Đến nay chuyện Bà Triệu từ thế kỷ thứ II vẫn còn hằn đậm trong tâm thức mỗi người Việt Nam với lòng ngưỡng mộ và tự hào. Lǎng và đền thờ Bà vẫn còn mãi với thời gian tại huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hoá là di tích lịch sử quan trọng của quốc gia là bằng chứng về niềm tự hào một người phụ nữ liệt oanh của Dân tộc Việt Nam. 
 
BÀ TRIỆU ẨU
voduonghonglam- vophubong

Đạp cơn sóng dữ quậy ngông cuồng 
Chém cá tràng kình dậy biển Đông
Giúp nuớc xây nhà xua giặc mạnh 
Dương cờ khởi nghĩa dựng binh hùng
Bồ Điền[ 1] giữa trận so đao kiếm 
Non Việt bên trời lập chiến công 
Nữ tướng Nhụy Kiều danh nổi tiếng [2] 
Ngàn sau rạng rỡ giống Tiên-Rồng.

Chú thích: 
[1] Bồ-Điền: căn cứ địa xảy ra những trận chiến quyết liệt giữa quân Bà và quân Ngô.
[2] Nhụy Kiều : Vị tướng yêu kiều như nhuỵ hoa.

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2015

SỰ TÍCH NGÀY LỄ TẠ ƠN (THANKSGIVING DAY)

SỰ TÍCH NGÀY LỄ TẠ ƠN (THANKSGIVING DAY)
Sưu tầm



     Bức tranh The First Thanksgiving của Jean Leon Gerome Ferris, người da trắng mời người da đỏ cùng ăn
Vào khoảng thế kỷ 16-17, một số người theo Công giáo và Thanh giáo tại Anh bị hoàng đế lúc đó bắt cải đạo để theo tôn giáo của ông ta, trong cuộc Cải cách Tin Lành. Những người này không chấp nhận và bị giam vào tù. Sau khi giam một thời gian vị hoàng đế truyền họ lại và hỏi lần nữa, họ vẫn quyết không cải đạo. Hoàng đế không giam họ vào tù nữa mà nói với họ rằng nếu họ không theo điều kiện của ông ta thì họ phải rời khỏi nước Anh.
Những người này rời khỏi Anh đến Hà Lan sinh sống nhưng họ sớm nhận ra mình không thể hoà nhập ở nơi này và lo sợ con cháu của họ sẽ bị mất gốc, một số nhóm người rời khỏi Hà Lan để đến Tân Thế Giới (Châu Mỹ) sinh sống, và sau này thường được gọi là Người lữ hành (Pilgrims). Những người này đi trên một con thuyền tên là Mayflower, họ đặt chân đến Thuộc địa Plymouth thuộc vùng Tân Anh (New England) khi đang mùa đông. Đói và lạnh, một nửa trong số họ không qua nổi mùa đông khắc nghiệt. Đến mùa xuân, họ may mắn gặp được những thổ dân da đỏ tốt bụng và cho họ ít lương thực. Người da đỏ dạy họ những cách sinh tồn ở vùng đất này như cách trồng hoa màu, săn bắt,... Khi người Pilgrims đã có thể tự lo cho bản thân được, họ tổ chức một buổi tiệc để tạ ơn Chúa Trời vì đã cho họ có thể sống đến ngày hôm nay, họ mời những người da đỏ và cùng nhau ăn uống vui vẻ. Từ đó về sau, hằng năm con cháu của người Pilgrims luôn tổ chức lễ tạ ơn để cảm ơn cho những gì tốt đẹp đã đến với cuộc sống.
Theo tài liệu, buổi lễ tạ ơn đầu tiên tại Hoa Kỳ, do người Pilgrims tổ chức, là vào năm 1621 tại Thuộc địa Plymouth, ngày nay thuộc Massachusetts, sau một vụ thu hoạch tốt.
Tổ chức truyền thống
                            Gà tây nướng lò, một món ăn thường thấy trong ngày Lễ Tạ ơn
                  Bánh Pumpkin(Pumpkin pie) thường dùng trong mùa Lễ Tạ ơn tại Bắc Mỹ
Lễ Tạ ơn thường được tổ chức với một buổi tiệc buổi tối cùng với gia đình và bạn bè với món thịt gà tây. Tại Canada và Hoa Kỳ, nó là một ngày quan trọng để gia đình sum họp với nhau, và người ta thường đi xa để về với gia đình. Người ta thường được nghỉ bốn ngày cuối tuần cho ngày lễ này tại Hoa Kỳ: họ được nghỉ làm hay học vào ngày thứ Năm và thứ Sáu của tuần đó. Lễ Tạ ơn thường được tổ chức tại nhà, khác với ngày Lễ Độc lập Hoa Kỳ hay Giáng Sinh, những ngày lễ mà có nhiều tổ chức công cộng (như đốt pháo hoa hay đi hát dạo). Tại Canada, nó là một cuối tuần ba ngày, người ta thường được nghỉ vào ngày thứ Hai thứ nhì của tháng 10 mỗi năm.
Tại Hoa Kỳ, người ta thường tưởng nhớ đến một bữa ăn tổ chức trong năm 1621 giữa người da đỏ Wampanoag và nhóm Pilgrims đã di cư tại Massachusetts. Lễ Tạ ơn đã được thực hiện chủ yếu bởi các nhà lãnh đạo tôn giáo tại New England cho đến năm 1682, và sau đó bởi cả hai nhà lãnh đạo chính quyền và tôn giáo cho đến sau Cách mạng Hoa Kỳ. Tổng thống Hoa Kỳ George Washington đã công bố lễ tạ ơn toàn quốc đầu tiên ở Mỹ vào ngày 26 tháng 11 năm 1789, "là một ngày tạ ơn công cộng và cầu nguyện bởi sự công nhận với lòng biết ơn sự gia ân và tín hiệu tốt của Thiên Chúa Toàn Năng". Nhiều chi tiết của câu chuyện là truyền thuyết được đặt ra trong những năm 1890 và đầu thế kỷ 20 để tạo một biểu hiện sự đoàn kết quốc gia sau Nội chiến Hoa Kỳ cũng như để đồng hóa các người nhập cư.
Tại Canada, Lễ Tạ ơn là một cuối tuần ba ngày. Trong khi ngày Lễ Tạ ơn nằm vào ngày thứ Hai, người Canada có thể ăn buổi tiệc trong bất cứ ngày nào trong ba ngày cuối tuần đó. Việc này thường dẫn đến việc ăn một buổi tiệc với nhóm người này hôm này, rồi với nhóm khác hôm kia.
Từ cuối thập niên 1930, mùa mua sắm cho Giáng Sinh tại Hoa Kỳ chính thức bắt đầu khi ngày Lễ Tạ ơn chấm dứt. Tại Thành phố New York, cuộc diễn hành Lễ Tạ ơn của Macy (Macy's Thanksgiving Day Parade) được tổ chức hằng năm vào ngày này tại Manhattan. Diễn hành thường có nhiều khán đài với nhiều chủ đề, có bong bóng lớn hình các nhân vật trên Truyền hình và các ban nhạc từ những trường trung học. Diễu hành này lúc nào cũng kết thúc với một Ông già Nôen. Có nhiều cuộc diễn hành khác tại nhiều thành phố khác.
Trong khi ngày thứ Sáu (còn gọi là Thứ Sáu Đen) sau ngày Lễ Tạ ơn là ngày mua sắm đông nhất trong năm tại Hoa Kỳ, nhiều cửa hàng đã bắt đầu chào đón khách hàng với các món hàng cho mùa lễ ngay sau Halloween.
Tuy rằng nguồn gốc của ngày lễ Tạ Ơn xuất phát từ một hoàn cảnh đặc biệt hiểm nghèo của nhóm di dân đầu tiên đã sống sót trên lục địa mới này, ngày lễ này thực ra đã có nguồn gốc rất xa xưa bắt nguồn từ những nền văn minh nông nghiệp cổ kính trên khắp thế giới. Tất cả các dân tộc sống bằng nghề nông đều có một ngày lễ đặc biệt để tạ ơn Trời Đất đã ban cho họ một mùa gặt hái thành công, giúp họ không bị đói kém. Các di dân Pilgrams đã làm lễ tạ ơn Thượng Đế dựa theo lễ La Mass gọi là lễ dâng bánh ở bên nước Anh, khi người nông dân đem miếng bánh đầu tiên làm bằng lúa của mùa gặt mới dâng lên Thượng Đế vào ngày mồng một tháng 8 hàng năm. Các dân tộc khác cũng có những ngày lễ tạ ơn Thượng Đế tùy theo tôn giáo của họ. Nói chung là tất cả các di dân hầu hết trên thế giới đều có một hình thức riêng biệt để tạ ơn Thượng Đế sau mỗi mùa gặt.
Người Việt là nhóm di dân sau cùng đến nước Mỹ. Người Việt không giống những di dân khác tìm đường sang Mỹ Châu phần lớn là vì lý do kinh tế nhưng các di dân người Việt rất giống các di dân Pilgrims ở chỗ ra đi để tìm tự do về văn hóa và tư tưởng. Các di dân người Việt chưa quen thuộc với các tục lệ của người Mỹ, trong đó có ngày lễ Tạ Ơn. Do đó, họ thường nghĩ rằng ngày lễ này có tính chất tôn giáo hoặc là môt ngày lễ riêng của dân Mỹ không quan hệ gì tới mình nhưng nếu hiểu được ý nghĩa cao quý của ngày lễ đặc biệt này, lễ của tất cả các di dân, thì có lẽ các di dân người Việt cũng có thể hồi tưởng những khó khăn lúc ban đầu khi mới tới đất Mỹ, tưởng nhớ những ân tình của những người bạn tốt không hề quen biết, những cơ quan thiện nguyện đã giúp đỡ mình xây dựng lại cuộc đời. Ngày lễ này cũng là một dịp để các di dân người Việt nhớ ơn đất nước và nhân dân Mỹ đã cưu mang mình!

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

NGẬM NGÙI

NGẬM NGÙI
Thơ: Huy Cận 
Nhạc: Phạm Duy
Tiếng hát: Duy Quang

 

TƯỢNG CỤ NGUYỄN DU BẰNG GỖ GÙ HƯƠNG

TƯỢNG CỤ NGUYỄN DU BẰNG GỖ GÙ HƯƠNG
 Ngọc Tú 
Sau hơn 3 tháng thi công, tượng đại thi hào Nguyễn Du được tạc từ khúc gỗ gù hương nguyên khối nặng 4,8 tấn đã được hoàn thành.
Chủ nhân của bức tượng đại thi hào Nguyễn Du “khủng” là anh Lê Văn Huy (SN 1971, TP. Vinh, Nghệ An). Khoảng tháng 4/2014, anh Huy tình cờ biết người dân tộc ở huyện miền núi Nghệ An đào được gốc cây gù hương khủng nên quyết mua về.
Vốn mến mộ cụ Nguyễn Du từ thuở bé nên khi mua được khúc gỗ quý, anh Huy liền lên ý định tạc tượng cụ Nguyễn Du để thỏa chí đam mê. Trong ảnh là bản thảo của bức tượng.
Ban đầu, khúc gỗ gù hương anh Huy mua được có chiều cao hơn 3,5m. Đường kính chỗ lớn nhất là 2,5m. Khúc gỗ này nặng hơn 4,8 tấn và ước tính có tuổi đời lên đến cả nghìn năm.
Anh Huy cho biết, mua gỗ thì dễ nhưng việc tìm thợ giỏi để về tạc tượng theo ý tưởng của mình là rất khó. Anh đã phải đi ra tận tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh để thuê những người thợ giỏi về tạc tượng.
Cuối năm 2014, anh Huy bắt đầu lên ý tưởng tạc tượng giống như bản thảo trước đó. Tuy nhiên, vì phải tham khảo nhiều ý kiến từ các nghệ nhân khác để hoàn thiện hơn nên mãi đến tháng 6/2015, công việc mới được triển khai.
Anh Huy cho biết: anh phải thuê rất nhiều tốp thợ với mỗi tốp 2 người để làm từng công đoạn một như cắt gỗ, tạc thô. Còn tạc chính và hoàn thành thì chỉ duy nhất một nghệ nhân tại tỉnh Bắc Giang đảm nhiệm.
Sau hơn 3 tháng làm việc cật lực, bức tượng đã được hoàn thành vào cuối tháng 9 vừa qua.
Sau khi hoàn thành, tượng có chiều cao 3,02m (tính cả đế), đường kính phần lớn nhất là 2m. Đây được xem là pho tượng cụ Nguyễn Du bằng gỗ gù hương khủng ở Việt Nam.
Chia sẻ về ý tưởng tạc tượng này, anh Huy cho biết do từ nhỏ đã được nghe những lời ru câu kiều nên không biết mến mộ cụ Nguyễn Du từ lúc nào. Từ đó, anh ấp ủ tạc tượng để tôn vinh cụ.
Anh Huy cho hay từ lúc biết anh hoàn thành bức tượng này, có rất nhiều người đến hỏi mua với giá rất cao. Tuy nhiên, anh nhất quyết không bán mà giữ lại.
Ở phía cạnh bên tượng là tấm biển khắc tên và năm sinh năm mất của cụ Nguyễn Du.
Ở phía bên thân tượng còn có một hộc cây đã ôm lấy hòn đá lâu năm. Cho rằng đây là mộc ngậm thạch rất đặc biệt nên anh Huy và những người thợ quyết tâm giữ lại nguyên bản mà không xử lý.
Mọi chi tiết bức tượng đều được tạc rất sắc sảo, đẹp.
Ngoài thân tượng, các nghệ nhân còn tạc thêm những cuốn sách, hồ lô và bàn, chén để bên cạnh rất đẹp và độc đáo.
Khuôn mặt cụ Nguyễn Du được tạc rất đẹp và giống y nguyên với những mẫu tượng về cụ trước đó.
Trên tay bức tượng vẫn cầm một chiếc bút mang nét độc đáo riêng của đại thi hào Nguyễn Du.
Toàn bộ thân tượng và các chi tiết đều được tạc từ khúc gỗ gù hương nguyên khối mà không hề có sự chắp nối.
Hiện tại, tượng đã tạc xong nhưng vẫn được anh Huy gửi tại một kho gần nhà. Vì sợ nắng nên anh Huy phải dùng bạt che để tránh gây sự hư hại cho tượng.
Được biết, anh Huy là thành viên Hội Di sản Sông Lam (Nghệ An) và đam mê đồ cổ. Trong nhà anh có đến hàng nghìn đồ cổ có tuổi đời từ trăm năm đến cả nghìn năm.
Vợ anh - chị Nguyễn Thị Vân Huyền (SN 1979) là cháu đời thứ 8 của dòng họ của cụ đại thi hào Nguyễn Du.
Anh dành hẳn 1 gian phòng để trưng bày cổ vật cho thỏa chí đam mê.
Rất nhiều đồ cổ từ thời đồ đá.
Có cả vòng của người Việt Cổ ngày xưa dùng làm trang sức.
Anh Huy cho biết: tượng sẽ được trưng bày trong dịp “Lễ kỷ niệm 250 năm (1765 - 2015) ngày sinh và vinh danh Danh nhân văn hóa thế giới Đại thi hào Nguyễn Du” được tổ chức vào tháng 11 tới đây.
Gia đình anh Huy, chủ nhân bức tượng đặc biệt.
                                                                          (theo Trí Thức Trẻ)